Việt Nam

Quê Hương Vẫn Nghìn Trùng Xa Cách

 

Nguyễn Việt Tâm

                       

Đây là những cảm xúc được ghi vội trong ba tuần lễ về những điều mà người viết đã mắt thấy tai nghe cùng với những nhận định chủ quan khi đi dọc theo chiều dài đất nuớc Việt Nam hiện được đặt dưới sự thống trị của bạo quyền Cộng Sản.

 Vì khoảng thời gian thật ngắn ngủi cùng với những giới hạn khác về mọi phương diện nên người viết không thể nào thấu triệt được tất cả những vấn đề, khía cạnh, khúc mắc cùng uẩn ức của đời sống đang diễn ra hàng ngày trên quê hương Việt Nam thật tội tình đó.

   


 

Chiếc phản lực cơ Boeing 747 của hãng hàng không Nhật Bản ANA  đưa tôi trở lại vùng trời Saigon sau gần 20 năm xa cách.  Chuyến đi thật bất ngờ : chỉ quyết định trước đó đúng một tuần lễ vì nhà tôi mới được tin tức liên quan đến một người thầy thuốc nam rất giỏi trị bệnh tim nên nàng quyết định về chữa thử sau nhiều năm theo tây y không hiệu quả.  Suốt một tuần lễ trước đó tôi như người mộng du: lúc nào cũng cảm thấy ngầy ngật, đôi lúc không biết mình đang ở đâu và làm cái gì nữa.  Miền đất mà tôi đã trốn chạy năm nào lại có thể ám ảnh tôi đến như thế sao?  Tôi không rõ, chỉ biết là trong giấc ngủ, ngay cả trong những giây phút tĩnh tâm các hình cảnh quá khứ ở chốn quê hương xa thăm thẳm đó lại xâm chiếm tâm tư tôi.

 

1.  Hai Mươi Năm Tình Cũ

 

Sau gần 13 tiếng đồng hồ bay từ Hoa Kỳ chúng tôi tới phi trường Narita, Nhật Bản.  Đây là một phi trường mới xây nằm cách thủ đô Tokyo khoảng 50 dặm về hướng đông.  Phi trường không nhộn nhịp và đẹp mắt như phi trường chính Haneda ở Tokyo.  Chờ khoảng gần 2 tiếng chúng tôi bay tiếp về Saigon.  Sau gần 5 tiếng đồng hồ bay nữ tiếp viên phi hành yêu cầu hành khách sửa lại lưng ghế, thắt giây an toàn vì phi cơ sắp hạ cánh.  Tim tôi chợt nhói lên và tự nhủ mình sắp đặt chân lên vùng đất quê hương xa lạ về đủ mọi phương diện sau gần 20 năm cách biệt.  Tôi nhìn ra khung cửa sổ, cả một khoảng không gian bao la tối mờ mờ vì giờ địa phương lúc đó là gần 10 giờ đêm.  Tôi chợt nhận ra một giải lụa bạc uốn mình theo hình móng ngựa phía dưới.  Không thể lầm lẫn với bất cứ con sông nào ở bất cứ nơi đâu, hình dáng đặc thù kiểu móng ngựa khi cong theo hướng nam, lúc thì lại uốn ngược lên phía bắc, rồi lại chênh chếch về hướng tây và lượn qua hướng đông đó chính là dòng sông Sàigòn.  Thuở trước tháng 4 năm 1975 vì công việc nên tôi thường xuyên đi Sàigòn bằng máy bay nhưng dù vậy mỗi khi thấy giải lụa uốn khúc này lòng tôi lại bồi hồi, xúc động và nôn nao hẳn lên vì dòng sông đó tượng trưng cho một nơi chốn nhiều kỷ niệm, một mảnh đất đã từng ôm ấp, cưu mang tôi, giúp tôi khôn lớn, cho tôi những kiến thức căn bản cần thiết để chập chững bước chân vào đời.  Những tưởng lần này lòng tôi lại rung lên những cảm giác huyền hoặc, ngất ngây, kỳ diệu khó tả khi được nhìn lại giải lụa đào đó sau một thời gian thật dài xa cách, nhưng tôi đã lầm.  Tôi chỉ thấy hình như tâm hồn tôi vẫn bình lặng nếu không muốn nói là lạnh băng, không một chút cảm xúc khi nhìn lại sông Sàigòn uốn khúc từ trên cao mặc dù dòng sông thân yêu đó vẫn lững lờ trôi thật bình thản như ngày nào. Tại sao lại có thể như vậy ?  Con sông thân yêu đó đã ra ngoài tầm với của tôi chăng ?  Tôi vẫn chưa hiểu được lý do.

 

2.  Phi Đạo Đèn Vàng

 

Khi máy bay từ phi đạo chính rẽ trái vào đường nhựa nhỏ hơn để đến chỗ đậu tôi bỗng chợt nhận thấy một xe hơi nhỏ, trên mui có gắn đèn chớp chớp  chạy trước hình như để hướng dẫn máy bay vào cổng.  Tôi nhìn qua khung cửa sổ nhỏ về phía xa hơn thì cũng thấy một xe tương tự đang dẫn một máy bay khác đi ra, có lẽ tới phi đạo chính để cất cánh.  Tôi đã đi qua nhiều phi trường nhưng chưa có nơi nào có cái cảnh lạ lùng này ngoại trừ tại những quốc gia thật chậm tiến ở Phi Châu.  Chính quyền muốn kiểm soát kỹ càng kể từ lúc máy bay ngoại quốc đáp xuống hoặc cất cánh khỏi lãnh thổ Việt Nam, hay là một cách để hóa đơn tính tiền các hãng hàng không ngoại quốc tăng lên ?   Cũng có thể vì phi trường Tân Sơn Nhất chưa được trang bị những dụng cụ tân tiến để hướng dẫn máy bay đi tới hoặc ra khỏi chỗ đậu như ở phi trường tại các nước phát triển khác nên đành phải dùng sức người chăng ?  Nhưng  dù là với lý do nào đi nữa thì tôi thấy cũng không ổn cho một nơi đã từng tự nhận là ‘’đỉnh cao trí tuệ của loài người’’.

 

Ánh đèn vàng vọt hắt ra từ những bóng đèn nhỏ rải rác trên sân bay tô điểm mờ mờ một vài chiếc phi cơ dân sự đậu lười biếng trên một khoảng không gian rộng lớn làm cho khung cảnh thêm thê lương, buồn chán.  Đây đó một vài hộp sắt lớn dùng để cập vào thân máy bay cho hành khách đi lên hoặc ra khỏi máy bay từ phía nhà ga phi trường nhô ra nằm rải rác trông xa như những cánh tay của những người kiệt lực không còn sức nhấc lên đành phải buông thõng.  Chợt một dẫy nhà vòm trống rỗng gồm khoảng chừng mười ô nằm sát nhau hiện ra, hình như có rêu phủ trên mái và cỏ dại mọc đầy chung quanh.  Có lẽ đó là những chỗ đậu máy bay chiến đấu ngày xưa của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà.  Chính quyền hiện tại không dùng đến, tại sao họ không phá bỏ đi nếu không cần, họ cũng không màng trùng tu, giữ gìn sạch sẽ khiến khách đi ngang qua không khỏi chạnh lòng khi nhớ đến cảnh cũ, người xưa.  Cảnh lạnh lùng, vắng vẻ, ảm đạm, tiêu điều của một nơi thông thường rất nhộn nhịp, tấp nập như tại các phi trường quốc tế ở những thành phố khác trên thế giới cho tôi cảm tưởng mình vừa tới một hành tinh thật lạ lẫm nào đó.  Những câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan chợt thoáng trong đầu :

                               

‘’ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

 Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

                                   ......

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường’’

 

3.  Thủ Tục ‘’Đầu Tiên’’

 

Vừa vào đến sân ga, hành khách bước tới một phòng thật rộng.  Phía trước là một dẫy khoảng tám chiếc quầy gỗ, ở trên mỗi quầy có gắn plastic trong suốt che phía trên.  Mỗi quầy đều có một viên công an ngồi trước một computer nhỏ để xét giấy thông hành.  Công an nơi đây mặc đồng phục xanh rêu đậm, đội mũ giống như cảnh sát thời xưa nhưng mầu vải trên mũ cùng mầu với bộ đồng phục và một làn vải đỏ bọc xung quanh.  Họ đeo cấp bậc trên vai nền đỏ, chân mang giầy đen.  Không còn nữa kiểu nón cối, dép râu, những biểu tượng đã từng gây kinh hoàng, tang tóc cho toàn dân miền Nam xa xưa; có lẽ nhà cầm quyền đương thời muốn xoá bỏ những hình ảnh đã từng tạo nhiều căm thù, oán hận ngày trước và họ có ý định dựng lên một cảm giác dễ chịu hơn cho những ‘’khúc ruột ngàn dặm’’ khi trở lại quê hương chăng ?  Hành khách lần lượt xếp hàng trước một trong tám quầy đó để trình giấy tờ.  Khi đến phiên chúng tôi, nhà tôi bước tới trước cầm theo passport của cả hai người, tôi theo sát vợ tôi.  Thật bất ngờ, viên công an ra dấu cho tôi dừng lại và nói : ‘’ Anh xếp hàng chờ ở phía sau’’.  Nhà tôi giải thích chúng tôi là vợ chồng đi chung một chuyến, anh công an đáp : ‘’Chỉ có một người tới chỗ làm việc thôi dù là một gia đình đi chung bao nhiêu người đi nữa, đây là luật chị à’’.  Tôi lui về hàng phía sau và đăm đăm nhìn viên công an này.  Anh ta còn trẻ, rất trẻ là khác, khoảng chừng 25 cho đến 28 tuổi là cùng.  Tôi không thắc mắc về chuyện một hay nhiều người được đứng để trình giấy tờ vì đó là thủ tục của mỗi nơi, nhưng tôi lấy làm lạ vì viên công an này gọi chúng tôi bằng anh chị.  Anh ta còn thua tuổi cậu con trai của chúng tôi nữa.  Không lẽ anh ta không đoán được tuổi tác người đối diện biểu hiện qua khuôn mặt hay sao ?  Không lẽ chữ Việt không còn từ ngữ nào khác ngoài anh chị nữa ư ?  Không lẽ đạo lý Việt Nam từ ngàn xưa để lại không thấm nổi vào đầu anh ta, một cái đầu có lẽ chỉ đặc sệt những giáo điều sắt máu và cứng ngắc của chủ nghĩa Cộng Sản, để gọi những người lớn tuổi bằng chú, bác, cô, dì được sao ?  Bị gọi bằng anh chị thay vì cô chú không làm người lữ khách gầy ốm hơn hay nghèo bớt đi, nhưng ít nhất cũng làm cho những người khách phương xa cảm thấy xa cách với xứ sở, lạ lùng với ngay cả người cùng quê cha đất tổ vì luân thường, đạo lý nơi đây đã chắp cánh bay xa và nhất là phải suy nghĩ, đắn đo thật kỹ càng trước khi dám phiêu lưu trở về nơi gọi là quê hương một lần nữa.  Qua sự việc này tôi lẩn thẩn nghĩ thêm có lẽ viên chức chính quyền đó rất thông thạo cả Anh lẫn Pháp ngữ nên anh ta mới áp dụng triệt để chữ You của Anh Ngữ cùng Tu và Vous của Pháp ngữ; tất cả anh ta đều dịch ra là anh chị cho tiện việc sổ sách.  Nghĩ cho cùng thì cũng nên cho anh ta điểm tốt vì ít ra người này cũng còn biết phân biệt được giữa You và Vous giống đực (gọi là anh) với You và Vous giống cái (gọi là chị) chứ cũng chưa đến nỗi lộn tùng phèo không biết phân biệt giữa nam và nữ.  Viên công an làm việc nhanh thoăn thoắt, tay bấm keyboard, mắt liếc nhìn monitor của chiếc computer nhỏ đặt trước mặt, miệng hỏi khách, đóng dấu vào visa, ghi ghi chép chép rồi trả tất cả giấy tờ cho vợ tôi và ra hiệu cho chúng tôi bước qua.  Công việc diễn ra dưới năm phút, tôi thật ngạc nhiên.  Sau này hỏi lại thì mới biết vợ tôi đã kẹp vào trong passport tờ giấy 5 mỹ kim.  Thảo nào !

 

Chúng tôi tiến tới chỗ lấy hành lý, chất lên xe đẩy tới chỗ khám hàng nhập nội của Quan Thuế mà họ gọi là Hải Quan.  Nơi đây cũng có cái scanner lớn để hành lý chạy qua, có hai nhân viên ngồi đằng sau chăm chú nhìn vào monitor để phân biệt những gì đựng trong những túi hành lý.  Khi tôi bỏ những túi sách tay lên ròng rọc để nó đẩy vào scanner, vợ tôi bước đến một nhân viên, có dáng dấp như người chỉ huy toán khám hàng, đứng phiá trước scanner và trình giấy khai báo những thứ mang vào Việt Nam[1].  Tôi liếc nhìn theo thì biết rằng trong giấy khai quan thuế đó có một tờ giấy mầu xanh của đồng mỹ kim.  Tôi thấy người này gật đầu.  Tôi không hiểu là anh ta gật đầu cho tôi lấy hành lý, hay là báo hiệu đã có ‘’chất tươi’’ để cho các nhân viên kia biết.  Không thấy ai nói gì, tôi lẳng lặng chất lại hành lý lên xe và đẩy ra ngoài nơi thân nhân đang chờ đợi.  Thế là chúng tôi đã đi qua khỏi cửa ải toàn là những ‘’thủ tục đầu tiên’’ của phi trường Tân Sơn Nhất.

 

Khi đẩy xe hành lý ra ngoài, chúng tôi thấy lố nhố những người đứng sau một rào cản dài, miệng la ơi ới tên người thân, tay giơ lên cao vẫy vẫy để những người thân nhìn ra họ.  Khoảng cách giữa những người đi đón thân nhân và cánh cửa bước ra khỏi khu khám hàng của Hải Quan rất rộng, khoảng gần 20 thước.  Cả một hành lang rộng lớn như vậy không có lấy một cái ghế để dân chúng ngồi chờ khi máy bay chưa đến.  Ôi những người thân của chúng tôi ơi, quý vị chắc đứng chờ mỏi chân lắm phải không?  Thôi thì đành phải cố gắng vậy.  Cố gắng chịu đựng những cay đắng, khốn khổ và những điều phi lý trong cuộc sống hàng ngày dưới sự lãnh đạo anh minh của ‘’Bác và Đảng’’ như quý vị đã từng phải chịu đựng trong gần ba thập niên qua.  Vừa tới hàng rào cản thì ba bốn người đã xô đẩy nhau tiến đến và hỏi : ‘’Đi taxi cô, chú’’.  Dù tôi lắc đầu họ vẫn bén gót theo sát để lập lại điệp khúc mời đi taxi cho đến khi người bạn và các cháu của nhà tôi bước đến chào chúng tôi và ôm chầm mừng hội ngộ. 

 

4.  Nửa Đêm Ngoài Phố

 

Trên đường về nhà tôi hoàn toàn lạ lẫm với đường phố.  Dù đã khuya nhưng vẫn còn nhiều xe gắn máy chạy lượn qua, lượn lại rất mất trật tự và thật là nguy hiểm trước mũi xe van của chúng tôi, một hoạt cảnh tôi chưa từng thấy và cũng khó lòng mà tưởng tượng được dù nhiều người quen từng về Việt Nam đã báo cho biết trước.  Tôi cảm thấy chóng mặt và bất ổn trước cảnh ’’đường ta ta cứ đi’’ như thế này, mặc dù người lái xe cho biết giờ này xe cộ như vậy là rất ít đó, ban ngày cô chú sẽ còn chóng mặt, đau đầu hơn.  Con đường dẫn ra khỏi phi trường mang tên Trường Sơn, có lẽ họ mới làm con đường này và cố ý đặt tên như vậy để nhắc nhở mọi người ‘’công lao’’ của họ đã vượt rặng núi chính của đất nước để vào ‘’giải phóng’’, giúp cho đất nước có được ngày hôm nay. Từ phi trường tới ngã tư Bẩy Hiền, tôi nhận thấy có nhiều khách sạn, nhà hàng ‘’karaoke gia đình’’ với những giàn đèn xanh đỏ lập lòe bên ngoài.  Tôi thắc mắc về chữ ‘’gia đình’’ thì anh tài xế giải thích tóm tắt là khi vào trong đó hát hò chú sẽ được mọi người đối đãi với chú y như một người trong gia đình vậy.  Tôi vẫn chưa ngộ được ý nghĩa của lời giải thích đó nhưng không dám hỏi thêm vì thấy mình quá cả đẫn.  Những quán cà phê cóc lẹp xẹp ở vỉa hè chen chân với những tiệm cà phê đèn lờ mờ ẩn hiện bóng dáng của các nữ chiêu đãi viên bên trong, những quán nhậu với các món ‘’đặc sản’’ riêng rẽ của từng tiệm kê rõ ràng dưới tên hiệu hầu như chiếm gần hết các tiệm hai bên đường.  Xe gắn máy hai bánh đủ loại dựng ngổn ngang, che kín cả vỉa hè bên ngoài, khiến kẻ bàng quang biết rằng họ rất đông khách.  Tôi chợt nghĩ giờ này đã hơn 11 giờ đêm tối thứ hai chứ không phải là tối cuối tuần mà họ nhậu nhẹt, cà phê, cà pháo như vậy thì sáng hôm sau làm sao đủ sức đi làm.  Lại thắc mắc, và anh tài xế lại phải trổ tài quân sư  cho kẻ ngờ nghệch, khờ khạo là tôi biết rằng đó chính là nơi làm việc, nơi giải quyết mọi vấn đề; tất cả mọi chuyện dù nhiêu khê, rắc rối cho đến đâu chăng nữa thì sau màn thông cảm ở bàn nhậu rồi tất cả đều trót lọt. 

 

5.  Một Kỳ Quan Thế Giới

 

Một sự kiện đập vào mắt tôi rõ nét nhất  trên đường xe chúng tôi chạy ngang là hầu như mọi nhà đều hẹp bề ngang, khoảng độ 2 hay 3 thước là cùng, nhưng chiều cao thì hết biết.  Hầu hết các nhà đó đều là nhà lầu vài ba tầng đúc bằng bê tông cốt sắt với những cột bê tông khẳng khiu giơ lên cao giống hệt những cánh tay vươn lên trời xanh như để cầu khẩn một đấng thần linh nào đó phù hộ cho ăn nên làm ra thì sẽ tiếp tục lên thêm vài tầng lầu nữa.  Với chiều ngang thật hẹp và chiều dài của căn nhà quá ngắn thì móng nhà nào mà chịu nổi sức nặng năm, sáu tầng lầu bê tông cốt sắt như vậy, thế mà các chủ nhà chưa hài lòng vẫn tiếp tục tăng thêm lầu mỗi khi có tiền.  Hay là lối kiến trúc ở Việt Nam hiện tại có một cách tính toán siêu đẳng mà các nước tiền tiến chưa biết đến chăng ?  Chính quyền sở tại đâu sao không kiểm soát kỹ việc lên lầu vô tội vạ tùy hỷ này.  Trong những ngày chạy vòng quanh Saigon ngắm cảnh tôi đã thấy không ít những nhà bê tông cốt sắt khẳng khiu đang nghiêng và có nguy cơ sụp đổ.  à, thôi tôi hiểu rồi có lẽ chính quyền ở đây định cạnh tranh với nước Ý nơi có nhà thờ Công Giáo ở thành phố Pisa, được dựng lên từ tháng Tám năm 1173, với tháp chuông cao 56 mét, bằng chiều cao của một căn nhà khoảng 14 tầng lầu, đang nghiêng đã được liệt vào hàng kỳ quan thế giới và quyến rũ hàng triệu du khách đến thăm hàng năm.  Rồi đây Saigon sẽ đón hàng tỷ du khách đổ về từ năm châu đến để chiêm ngưỡng hàng nghìn nhà lầu nghiêng chứ không phải chỉ có một cái tháp như ở bên Ý Đại Lợi.

 

6.  Giáp Mặt ‘’Người Tình Xưa’’

 

Khi  đến nhà, sau thủ tục thăm hỏi, chúc tụng, làm quen với chỗ ở mới, tôi vào giường ngủ khoảng độ 1 giờ sáng.  Người mệt nhừ sau khi bị bó gối cùng một đêm không ngủ trên máy bay, tôi chìm vào giấc ngủ không mộng mị đến hơn 5 giờ sáng thì thức giấc.  Mặc dù mắt còn cay xè, thân xác hình như muốn ngủ tiếp nhưng tôi không tài nào nhắm mắt thêm được nữa.  Có lẽ tâm thức của tôi đã thúc dục tôi thức dậy sớm để chiêm ngưỡng sinh hoạt sáng sớm của Saigon, thủ đô thân yêu của tôi ngày nào.  Đứng trên sân thượng nhìn xuống tôi bỗng thất kinh.  Mới chưa đến 6 giờ sáng, con đường Cao Thắng phía dưới, đã tràn ngập các loại xe hai bánh có gắn máy.  Lòng đường đặc nghẹt xe ở cả hai chiều.  Tôi có cảm tưởng dân chúng đang đi biểu tình bằng xe gắn máy, hình như họ đang phản đối một điều gì đó bằng cách bóp còi xe kêu inh ỏi.  Ở trên lầu năm mà tôi còn thấy tai ù ù vì còi xe.  Sau này tôi mới biết bóp còi xe là một cách chạy xe ở Việt Nam.  Đó là cách báo hiệu có xe đang tiến tới.  Bạn có nhiệm vụ phải lách ra hay lách vào tùy chỗ trống để tôi tiến lên.  Nếu bạn gan lì không thèm lách đi đâu hết thì tôi chịu thua.  Sau đó tôi đành phải tìm chỗ khác mà tránh vậy.  Luật lệ giao thông duy nhất ở Việt Nam bây giờ được tuân theo một cách triệt để là phải liều và lì, quan trọng nhất là xe phải có một cái còi thật tốt, kêu thật to, xe hư gì cũng được, kể cả thắng nhưng không thể hư còi xe. 

 

Nôn nao trong lòng nên tôi xuống phố một mình vào khoảng 6:30 sáng.  Tôi muốn hòa mình vào dòng người đang xuôi ngược trên đường phố.  Tôi muốn hít thở không khí của một nơi chốn mà tôi tự nhận là chỗ chôn nhau cắt rốn mặc dù Sàigon không phải là sinh quán hay nguyên quán của tôi.  Tôi muốn sống như một người dân bình thường trên quê hương tôi.  Những cảm giác ngột ngạt, khó chịu tối hôm qua tại phi trường Tân Sơn Nhất và trên đường về nhà hình như tạm rời trí óc tôi.  Tôi đi, thật ra không hẳn là đi mà hình như tôi nhẩy như những bước chân chim trên đường Cao Thắng về hướng đường Trần Quốc Toản cũ mà nay bị đổi tên là đường 3 tháng 2.  Lòng tôi như đang mở hội.  Khi trốn chạy khỏi quê hương gần hai mươi năm trước đây những tưởng không bao giờ có ngày đặt chân về lại nơi chốn này nữa, vậy mà giờ đây tôi đang đi trên con đường đầy những kỷ niệm êm đềm, mật ngọt của ngày xa xưa.  Thế nhưng tất cả đều lạ lùng.  Hình như tôi không còn nhận ra một hình ảnh quen thuộc nào của ngày xưa nữa : không phải chỉ ở chỗ nhà cửa đều khác, mà còn ở vẻ tất bật lẫn nét đăm chiêu của mọi người trên đường và cả cách phục sức của phái nữ.  Họ đội đủ thứ mũ trên đầu, một chiếc kính xậm mầu thật to ngự trị trên đôi mắt, một miếng vải xô rộng bản che hết cả miệng và mũi tựa như những nhân viên sở vệ sinh hay hơn nữa y như Hành Khất Đại Hiệp đang trên đường đi trừ gian diệt bạo.  Đâu còn nữa vẻ yểu điệu, duyên dáng của phái nữ khi họ vắt vẻo trên chiếc Velo Solex vào đầu thập niên 60 hay nét yêu kiều, diễm lệ trên xe Honda dame cuối thập niên 60. 

 

7.  Hè Phố Quê Ta

 

Cuộc vui trùng phùng với quê hương chưa được trọn vẹn thì tôi bị một cái té như trời giáng.  Thì ra vì mải ngó ngang, ngó dọc phố xá nhà cửa hai bên đường mà không để ý đến vỉa hè chỗ cao, chỗ thấp không đều nhau nên tôi bước hụt vào chỗ vỉa hè thấp.  Cũng may là chỉ bị trầy đầu gối, chưa đến nỗi lọi giò và nhất là không té vào những người đang ngồi uống cà phê ở những bàn kê dọc theo vỉa hè.  Từ đó tôi để ý kỹ hè phố.  Lúc mới bị té tôi cứ tưởng chỉ có chỗ đó mới có lề đường không bằng nhau, thì ra đây là một đặc điểm chỉ ở Saigon bây giờ mới có :  lề đường cao hay thấp thì tùy ý thích của từng chủ nhà.  Quý vị ở các nước Tây Phương quá quen với chuyện dạo phố chiều xuân trên các lề đường bằng phẳng đều nhau nên để ý kỹ điểm này kẻo không thì có thể trở nên Tôn Tẫn tân thời.  Tôi lại thắc mắc chính quyền ở đâu rồi mà không ra một thể lệ để ấn định một chiều cao đồng nhất cho các hè phố hầu mọi chủ nhà phải tuân theo, cùng cách thức xử dụng vỉa hè và các biện pháp chế tài khi vi phạm những thể lệ đó.  Lập kế hoạch thiết kế, chỉnh trang thành phố là một trong những nhiệm vụ của chính quyền địa phương, và vỉa hè là một điểm trong kế hoạch chỉnh trang đó để làm cho thành phố sạch sẽ, khang trang, an toàn hơn ngay cho cả khách bộ hành, hay là ‘’chính quyền cách mạng’’ còn bận tâm lo giải quyết những việc lớn lao, chú ý đến đại sự, còn vỉa hè chỉ là chuyện lẻ tẻ không đáng để ý đến chăng ?  Cảm thấy không ổn trước cái bẫy vỉa hè này vì nếu cứ cúi xuống mà dòm xem chỗ cao thấp thì làm sao mà có thể ngắm được nhà cửa, phố xá nữa nên tôi đành lộn về nhà để mượn đứa cháu cái cây ba toong.  Vừa ngắm phố xá tôi vừa dò cây gậy để biết khi nào phải lên gềnh cùng lúc phải xuống thác.  Nhờ cây ‘’đả cẩu bổng’’ này tôi yên tâm dạo phố, ngắm cảnh, không còn lo xụp bẫy vỉa hè khập khễnh nữa.  Có điều tốc độ di chuyển của tôi khá chậm.  Tôi tặc lưỡi cho qua vì an toàn vẫn hơn, đi đâu mà vội.  Trông tôi không khác gì ‘’Hiệp Sĩ mù nghe gió kiếm’’, chắc là dị hợm lắm vì thấy nhiều người ngó tôi chăm bẳm.  Tôi phớt lờ coi như không biết.

 

Tôi làm mặt dạn dĩ áp dụng bài học người nhà đã dạy trước khi ra khỏi nhà sáng hôm nay là ‘’cứ việc băng ngang qua đường, xe tránh người, chứ nếu người tránh xe hay chờ đèn xanh, đèn đỏ thì đến ‘’tết con kỳ nhông’’ mới qua được đường’’.  Cuối cùng với tim đập thình thịch tôi cũng liều mạng băng qua được con phố cắt ngang đường Cao Thắng, khi xưa tên Phan Thanh Giản nay đuợc đổi lại là Điện Biên Phủ.  Khi nhìn thẳng về hướng ngã ba đường 3 tháng 2 tôi bỗng ngạc nhiên khi thấy một dẫy tiệm nằm trên đường đó đối diện với ngã ba Cao Thắng.  Ngày xưa đâu có vậy, chỗ đó là một bờ tường xi măng cao chạy dài tới tận công trường Dân Chủ che kín căn cứ quân vận hay quân cụ gì đó mà tôi không nhớ rõ lắm, bên cạnh là khuôn viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.  Từ ngoài đường phố du khách không thể ngó thấy ký túc xá học viện nằm sâu trong sân như trước nữa vì đã bị dẫy nhà lầu bít kín.  Hầu hết tất cả sân cỏ rộng rãi trước những công thự, trường ốc ở Saigon để tạo vẻ thoảng mát trước đây đã được các giới có quyền hành cắt nhỏ chia cho các công thần của chế độ cất lên những cửa tiệm, những nhà lầu, khiến khách tha hương trở về tìm mãi mới thấy cảnh cũ vì đã bị che khuất chẳng hạn trước trường Hành Chánh, Y Khoa, Văn Khoa, Nguyễn Bá Tòng, Hội Kỵ Mã, Viện Giám Sát....Có lẽ họ áp dụng triệt để câu nói của người xưa :

 

Ai ơi đừng bỏ ‘’đất’’ hoang

Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.

 

Thật đúng là tấc vàng vì khi đọc quảng cáo mục bán nhà, tôi thấy có vài căn ở vào địa điểm vừa nêu trên chủ nhà rao bán với giá khoảng từ 500 đến 800 cây vàng y, tức khoảng độ 300,000 $US , một số tiền quá lớn kể cả đối với những người sinh sống ở đất Hoa Kỳ.  Tôi lại tự ngẫm ở tại một xứ sở mà lợi tức đồng niên trung bình một người khoảng đưới 1,000 $US và với việc mua bán mọi thứ kể cả nhà cửa và xe cộ thường được thanh toán liền bằng tiền mặt vì chưa có một hệ thống tín dụng hữu hiệu như ở Hoa Kỳ thì giá nhà nói trên đã diễn tả thật đầy đủ mặt trái của xã hội Việt Nam bây giờ.

 

Ngôi trường Hành Chánh bề thế, trang nghiêm ngày xưa thì giờ đây hầu như hoàn toàn bị những cửa tiệm buôn bán che khuất phía trước ngoại trừ dẫy nhà chính dùng để giảng dậy.  Ngùi ngùi trước vẻ thay đổi quá lớn của ngôi trường cũ, tôi thẫn thờ đi bộ dọc theo đường 3 tháng 2 phía đối diện trường.  May mắn thay ngay tại một ngõ hẻm lớn đối diện với cổng chính vào trường có một xe bán thức ăn sáng với những bàn ghế bằng gỗ tạp thấp lè tè kê dọc theo ngõ hẻm.  Quý vị đi vòng quanh Saigon sẽ dễ dàng nhận thấy hầu hết các ngõ hẻm  rộng hay hẹp đều có ít nhất hai xe đẩy, một bán thức ăn, một bán nước uống, với những bàn ghế lỏng chỏng kê chung quanh che gần hết lối đi của ngõ hẻm.  Nhưng không sao, người dân Việt Nam bây giờ có lẽ có tài luồn lách nhất thế giới, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chật hẹp đến đâu chăng nữa thì những người dân khốn khổ này vẫn có thể tìm cách đi qua được, hơn nữa như vậy mới có dịp để giúp các quan phường khóm được những xe này ‘’bồi dưỡng’’ hậu hĩ nữa chứ.

 

 

8.  Những o Thuật Gia Trên Đường Phố

 

Tôi chọn một bàn ở phía ngoài cùng, nơi đây tôi ngắm dễ dàng xe và người di chuyển kể cả ngôi trường bên kia đường.  Sau khi gọi dĩa bánh cuốn cùng một ly cà phê đen tôi thả hồn vào khung cảnh truớc mặt.  Lác đác mới có người đi bộ, đa số di chuyển bằng xe gắn máy hai bánh đang đan kín mặt đường, thỉnh thoảng có một vài chiếc xe hơi loại du lịch nhỏ, đa số là xe Đại Hàn, ở Việt Nam thường được gọi là Hàn Quốc, như Kia hoặc DaeWoo.  Cách chạy xe của mọi người, kể cả phái nữ, giờ đây thật là bậm trợn.  Họ lạng, họ lách, họ tìm mọi cách để mà xấn tới phía trước kể cả xâm chiếm lằn đường ngược chiều bên kia nếu họ nhận thấy có một khoảng trống nhỏ.  Cứ y như đang trình diễn ảo thuật, khi thấy có bóng người đi bộ chợt băng ngang đường thì dòng xe cộ đang ào ào phi nước đại bỗng như con rắn trườn qua trườn lại hoặc hơi thun mình lại một chút để chừa kẽ hở nhỏ cho người đi bộ qua đường an toàn.  Thật là tài tình.  Còi xe vang lên đinh tai, nhức óc, nhưng tôi thấy cô bán hàng không tỏ vẻ bận tâm, có lẽ vì quá quen và cũng vì đang tất bật với việc sửa soạn những dĩa bánh cuốn, những tô mì hay hủ tíu .... Nhìn sang những bàn bên cạnh, tôi hơi ngạc nhiên vì khách đã choán hết chỗ ngồi.  Tôi cảm thấy mừng cho cô bán hàng, đông khách như vậy chắc là tiền kiếm được sẽ khá.   Chợt giọng một nam nhân vang lên ở bàn phía sau càm ràm về một điểm gì đó trong một bài học hình như về một chương trình ‘’khuyến mãi’’ nào đó.  Chữ dùng đã lạ, giọng nói còn lạ hơn: cũng giọng Bắc nhưng sao nghe chát chúa như có ai đang xé một tấm lụa mỏng ngay bên tai tôi.  Âm thanh không êm dịu này đã hành hạ tôi không ít trong những tháng ngày bị đầy ải trong các trại cải tạo ngày trước, những tưởng đã quên, giờ đây lại xoáy vào đầu.  Thế rồi như một dàn nhạc lớn trình diễn, một loạt các giọng nói ‘’thanh tao’’ trên cùng nhau ào ào tranh cãi về điểm mà người đầu tiên vừa nêu ra. Theo những nhà nghiên cứu về giọng nói của nhân loại, ngoài những yếu tố di truyền, địa lý, giọng nói con người còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi điều kiện sinh sống.  Khi sống sung túc, thoải mái con người nói năng nhẹ nhàng, êm đềm theo đó thì âm phát ra nếu không là những âm điệu du dương trầm bổng của những bản nhạc tình cảm êm dịu thì cũng êm ái, dễ nghe.  Ngược lại nếu cuộc sống quá khốn khổ, thường xuyên bị đè nén, áp bức, âm thanh giọng nói của những người đó thường có khuynh hướng chói lên cao, chát chúa như để than khóc với trời xanh cuộc sống quá cơ cực, lầm than hay ít ra cũng làm cho tâm tư tạm thời đỡ nặng chĩu. 

 

9.  Trường Cũ, Trò Mới

 

Tôi muốn điên đầu với âm thanh của ‘’ban đại hợp xướng’’, nhưng vì có ý định nhìn lại tổng quát sinh hoạt buổi sáng của ngôi trường mẹ bên kia đường nên đành chịu trận.  Tôi thấy buồn cười khi cuộc thảo luận về bài học chỉ diễn ra khoảng vài phút đã chuyển sang một ‘’sự cố’’ khi làm việc ở một phường nào đó thuộc một quận ngoại thành Saigon rồi đến những chỗ có các món nhậu hấp dẫn cùng các cô phục vụ ‘’tươi mát’’.  Họ bô bô nói cười không cần giữ ý, giữ tứ, coi như đang ở phòng riêng của họ với ngôn từ ‘’thời thượng’’ ‘’toàn xài giấy năm trăm’’.  Tôi cảm thấy nhẹ hẳn người lúc họ xô ghế đứng lên rồi cùng nhau băng ngang đường .  Toán của họ năm người, tuổi khoảng trên dưới bốn mươi, mỗi người đều mang theo cái cặp căng phồng có lẽ đựng giấy tờ. 

 

Tôi giật thót người khi thấy những người đó đi vào khuôn viên của ngôi trường dồ sộ trước mặt mang bảng chữ ‘’ Học Viện Hành Chính Quốc Gia’’.  Ôi, trường cũ của tôi đó, ngôi truờng đã từng đào tạo bao nhiêu chuyên viên phục vụ chính nghiã quốc gia thuở xa xưa thì giờ đây lại có những môn sinh như vậy hay sao ?  Đau xót cho trường mẹ của tôi quá.  Sau này thân nhân tôi cho biết đa số những người theo học toàn là những chức quyền trung cấp.  Họ học để có một cái gì đó lót thân hầu bám chắc vào cái ghế đang ngồi hoặc chuẩn bị bò lên ghế cao hơn.  Đã có nhiều bài viết trên các báo về việc các ông quan này đi thi.  Không một giám thị phòng thi nào dám đụng đến ‘’các quan lớn quyền uy lệch đất nghiêng trời’’ khi họ đương nhiên giở sách để chép bài thi chứ không thèm lén lút dấu dưới chân hay hộc bàn.   Bạn tôi còn khôi hài kể là có một quan công an với bộ đồng phục trên người và lon lá đỏ vai còn trơ trẽn, ngang nhiên giơ tay hỏi giám thị : ’’Cái bài thi đó thì nó nằm ở sách nào, trang mấy’’ hầu còn biết chỗ để giở ra mà chép!  Nhìn kỹ bề ngoài của ngôi trường tôi mới nhận ra họ đã sơn phết lại một mầu thật dị hợm :  cái mầu gì mà nó lưng lửng giữa vàng đậm và da cam, còn các cột chính thì quết mầu nâu lợt.  Cách pha mầu độc đáo đã làm biến mất vẻ trang nghiêm của ngôi trường và thay vào đó là một vẻ khôi hài kệch cỡm của một anh trưởng giả học làm sang cũng như cái tên trường hiện tại, tự nó đã nói lên bản chất kiêu căng thái quá của lớp người có quyền đương thời, cái gì cũng muốn khác với ‘’chữ nghĩa của Ngụy’’, muốn khoe mình văn hay chữ tốt nên đã đặt lại tên trường thật là ngớ ngẩn, lố bịch.  Những người bạn cũ cùng lớp với tôi còn kẹt ở Việt Nam cho biết đối với họ ngôi trường xưa coi như đã chết, họ cố gắng tránh đi ngang để khỏi đau lòng trước mầu sắc tang thương cùng cái tên kỳ cục của trường cũ.   Ôi xẩy đàn tan nghé !

 

10.  Những Công Bộc ‘’Mẫn Cán’’

 

Trở lại nhà thì vợ tôi cho biết sẽ đi tới nhà vị thầy thuốc nam với hai đứa cháu và nàng ký ngay ‘’giấy phép’’ cho tôi đi ngao du Saigon một mình.  Tôi ra góc đường để lựa một người chạy xe Honda ôm có bề ngoài tương đối lương thiện.  Một điểm độc đáo của Việt Nam bây giờ là bất cứ góc đường nào tại bất cứ xó xỉnh nào của mọi thành phố đều đầy rẫy xe ôm.  Quý vị cứ thấy ai đội mũ xùm sụp, ở phía trước gần đèn xe có gắn tấm ny lông đã được xếp gọn ghẽ để khoác vào người khi trời mưa và một bình đựng nước uống thì đó là chính hiệu anh chạy xe ôm.  Ngày xưa chỉ có xe Honda, bây giờ thì đủ loại Nhật, Đại Hàn và nhiều nhất là xe Trung Cộng[2] vì được bán ra rất hạ so với xe của các nuớc khác khoảng 700 $US, trong khi xe Honda kiểu Future mới nhất bán tới hơn 2000 $US.  Chính đội ngũ đông đảo của giới chạy xe ôm nói lên thực trạng của nền kinh tế Việt Nam : phí phạm tài nguyên nhân lực, thiếu đầu tư vào phương tiện giao thông, chuyên chở, tất cả chỉ là bộc phát, tự cung, tự ứng để sinh tồn.  Chính quyền hoàn toàn dửng dưng không cần để ý đến, có chăng chỉ có giới cảnh sát giao thông là chiếu cố đến họ ‘’tận tình’’ mà thôi.  Thông thường tại bất cứ ở đâu thì cảnh sát giao thông chuyên đứng đường tại các điểm thường kẹt xe hay tại những giao lộ lớn để điều hòa xe cộ di chuyển là những nhân viên cực khổ nhất trong ngành có lẽ vì mới vào nghề hoặc không thần thế.  Trái lại, tại thiên đường Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam hiện giờ thì ngược hẳn.  Bạn muốn đứng đường để có thể thối còi chận bất cứ một chiếc xe nào đang di chuyển trên đường ư ?  Dễ thôi, chỉ cần ‘’thủ tục đầu tiên’’ với ‘’xếp’’ là được ngay.  ‘’Thủ tục’’ này nặng hay nhẹ thì tùy thuộc vào địa điểm bạn muốn đứng.  Chỗ phồn hoa đô hội thì đương nhiên giá cả phải cao hơn chỗ ‘’hốc bà tó’’ chứ , ‘’lô gíc’’ quá còn gì nữa.  Sau này suy nghiệm ra tôi mới thấy việc chạy xe vô trật tự tại các đường phố ở Việt Nam bây giờ không phải tự nhiên mà có, đó là cả một công trình khuyến khích của chính quyền.  Lúc đầu thả lỏng, hoặc cho nhân viên làm cò mồi chạy vung tí mẹt, ngược chiều, cùng mọi việc ẩu tả khác  mà chẳng bị phạt gì cả.  Sự việc hầu như vô tổ chức này giống như một bệnh dịch lây nhanh qua mọi người.  Vậy là toàn quân, toàn dân ta ‘’hồ hởi, phấn khởi’’ chạy bừa, chạy ẩu, chạy đại miễn sao đến nơi cho thật nhanh không cần biết đến người chung quanh.  Khi việc chạy xe vô trật tự như vậy đã thành thói quen ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng mọi người rồi, khó mà trở lại nề nếp, quy củ thì đó là lúc các quan cảnh sát giao thông làm việc.  Sở dĩ tôi có ý nghĩ trên vì chưa một nước nào trên thế giới này mà lại có một đội ngũ cảnh sát giao thông dùng xe gắn máy hai bánh của riêng họ để đuổi theo những xe vi phạm thể lệ đi đứng mà chỉ có ở Việt Nam mà thôi.  Không nhân viên cảnh sát nào mẫn cán yêu nghề đến độ bỏ tiền túi mua xe, mua xăng để đuổi theo những người vi phạm thể lệ lưu thông cả.  Chỉ có thu được lợi lộc cho riêng mình thì họ mới tích cực như vậy mà thôi.  Ở Saigon đôi khi cũng thấy nhân viên cảnh sát đội nón sắt cỡi mô tô có sơn chữ Police và có gắn đèn chớp chớp trên xe, nhưng người thân tôi cho biết đó là lực lượng ‘’phản ứng nhanh’’ chỉ can thiệp những vụ hình sự cướp của, giết người mà thôi.  Còn anh cảnh sát giao thông thơ thẩn đi tới đi lui ở góc đường có dựng cái xe gắn máy riêng thường là Honda thì như một triết nhân, rất ư là hiền lành vô tội vạ, có lẽ lúc đó anh ta mệt vì mới bắt được một con mòng về hoặc sở hụi ngày hôm đó đã đủ nên anh tạm nghỉ xả hơi, lúc nào khoẻ thì lại tiếp tục, muốn chận cái xe nào mà lại chẳng được vì vi phạm đầy rẫy trước mặt, có hiếm hoi đâu mà lo. 

 

Tôi có vài kinh nghiệm về lề lối làm việc của các quan này.  Một lần chiếc xe ôm chở tôi bị chận ở gần Bùng Binh Saigon, lý do đèn trước hơi mờ, quan giao thông hăm cho giấy phạt, tôi không rõ số tiền sẽ bị phạt là bao nhiêu, nhưng sau khi anh xe ôm bắt tay quan giao thông thì chiếc xe ôm lại thơ thới, hân hoan tiếp tục rong ruổi mà tôi chẳng thấy giấy phạt gì cả.  Tôi hỏi thì anh xe ôm cho biết anh ta đã kẹp tờ giấy 20, 000 đồng, khoảng 1.35 $US , vào lòng bàn tay khi đưa tay ra bắt.  Thì ra là như vậy.  Hai lần sau đều xẩy ra tại Hà Nội.  Chiếc xe van chúng tôi đi có lẽ vì mang bảng số Saigon nên bị chận lại tại ngay Ô Cầu Giấy, nơi viên Đại Tá Pháp Henri Rivière tử trận khi mang quân xâm chiếm Việt Nam thời xa xưa.  Sau khi tài xế trình đầy đủ giấy tờ hợp lệ, thấy không thể bắt bẻ vào đâu được anh giao thông bèn bỏ nhỏ :‘’ Thôi thì cho anh  em tiền uống cà phê đi’’?!?  Không muốn rắc rối nên chúng tôi bỏ ra 20,000 đồng.  Lần thứ nhì khi chạy trên phố Nguyễn Thái Học định quẹo trái vào phố Hàng Bông để tìm đường qua cầu Chương Dương hầu chạy đi Hải Phòng thì bị anh giao thông đuổi theo bằng xe gắn máy riêng chặn lại với lý do là chỗ đó cấm quẹo trái.  Biết lỗi chúng tôi sùy ra 50,000 đồng thì anh ta nạt nộ : ‘’Xe hai bánh đã 50,000 đồng rồi, còn xe to như thế này thì phải gấp đôi’’.  Một màn trả giá hi hữu nhất trên cái cõi đời này đã diễn ra một cách thật là sôi nổi, cuối cùng hai bên cũng thoả thuận được với nhau về giá cả là 80,000 đồng.   Sau khi thản nhiên bỏ tiền vào túi quần, quan giao thông ta lại tà tà cưỡi ‘’xe bình bịch’’ về lại điểm phục kích cũ.  Có như vậy thì họ mới chịu khó sắm xe riêng thật tốt để ‘’làm việc công’’ chứ. 

 

Các quan cảnh sát lưu thông chỉ tích cực trong việc đuổi theo các loại xe để phạt mà thôi chứ không thích thú lắm khi bị khách bộ hành hỏi thăm đường phố hoặc địa chỉ một nơi chốn nào đó, có lẽ vì khi làm việc này thì các quan ta phải tốn công nói mà chẳng bỏ túi được đồng xu cắc bạc nào cả.  Tôi đã sững sờ khi hai lần tại hai nơi khác nhau đến góc đường hỏi thăm về một tên đường lạ hoắc mà chưa bao giờ được nghe tới, một ở góc đường Trần Hưng Đạo, Yersin hỏi đường Lê thị Hồng Gấm, một ở góc đường Hai Bà Trưng, Lê Thánh Tôn hỏi đường Mạc thị Bưởi. Thay vì nói một câu thật ngắn chẳng hạn như : ‘’ Ở đó’’  hoặc giá chót cứ nói không biết đi thì nó còn đỡ kỳ cục, đằng này quan ta chỉ vẫy vẫy ngón tay về một phía chân trời xa xôi, huyền bí nào đó, trong khi mặt thì ngoảnh về hướng khác, tuyệt đối ‘’im lặng vô tuyến’’ không thèm ban ra ‘’một lời vàng ngọc’’ nào cả mặc dầu tôi đã ‘’lễ phép’’ lập lại câu hỏi.  Ôi cung cách phục vụ dân chúng của các quan ta !  Thế nhưng tôi thấy vẫn còn được an ủi vì ít nhất những ông quan này đã không nổi dóa lên mà bắt tôi về tội đã ‘’cả gan phạm thượng’’, dám làm khuấy động những giây phút yên tĩnh, nghỉ ngơi hoặc đang tìm vần thơ sầu rụng của các ông trời con đó.

 

Một người bạn của tôi cho biết anh ta có người bà con xa được điều từ Hà Nội về làm ngay tại phòng cảnh sát giao thông thành Hồ.   Cứ mỗi buổi chiều sau khi hết giờ làm việc, người cảnh sát giao thông này được một người chạy xe gắn máy hai bánh đến tận nhà chở thẳng ra xa lộ Biên Hoà, giờ được đổi thành xa lộ Hà Nội, tới một địa điểm ngoài ngã ba đi Vũng Tầu gần khu Tân Hiệp.  Nhiệm vụ của anh ta là lái một xe vận tải hạng nặng chở đầy hàng, đang đậu chờ tại đó, về tận Sàigon.  Sở dĩ anh ta được chủ xe vận tải đó nhờ cậy làm công việc này vì là một cán bộ có chức quyền cao làm ngay tại văn phòng ở Sàigon, được các quan cảnh sát giao thông đứng đường biết mặt, do vậy các quan giao thông đứng đường này không dám hoạch họe xếp lớn đang lái xe tải. Bù lại quan ‘’tài xế tăng ca’’ đó sau mỗi chuyến đi sẽ được lãnh một số tiền gần bằng lương tháng của anh ta.   Dù phải trả thêm lương hậu hĩnh như vậy nhưng chủ xe hàng này sẽ tiết kiệm được một số tiền không nhỏ khi bớt được khoảng trà nước dọc đường lúc chạy vào thành phố.  Tất cả đều có lợi, ngoại trừ giới tiêu thụ vì những khoản chi thêm đó đều được tính vào giá thành của từng món hàng.

 

11.  Dạo Phố Saigon

 

Tìm được một người chạy xe ôm vừa ý, tôi hỏi giá để bao anh chạy suốt ngày, tương đương khoảng 8 $US từ 10 giờ sáng đến 7 giờ chiều.  Ngày đầu tiên tôi chưa có ý định tới một nơi chốn nào, chỉ muốn có một cái nhìn tổng quát thủ đô cũ của tôi nên để anh ta toàn quyền quyết định, muốn đi đâu cũng được. Thế là anh ta đưa tôi dong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm Saigon, Chợ Lớn, Gia Định.  Tôi không còn nhận ra nơi chốn tôi đã ở trước đây nữa ngoại trừ những chỗ quá đặc biệt như các dinh thự cũ, các chợ, các cầu chính yếu ngày xưa, còn thì y như tôi đi thăm một thành phố xa lạ nào đó chưa một lần bước chân đến.  Tất cả chỉ thấy nhà lầu, cửa tiệm bán đủ mặt hàng san sát nhau, cùng người đi ngập phố phường.  Một điều tôi thấy rõ nhất là rất nhiều đường phố đã bị đổi tên.  Có những tên đường cũ họ vẫn dùng nhưng lại di chuyển tới đường khác ví dụ đường Trần Quốc Toản trước kia nay thành đường 3 tháng 2, còn Trần Quốc Toản thì về nằm trên con hẻm nối liền Hai Bà Trưng gần nhà thờ Tân Định và Trương Minh Giảng nay đổi là Trần Quốc Thảo.  Đường Phan Đình Phùng trở thành Nguyễn Đình Chiểu và vị anh hùng này đành lủi thủi đi ở ẩn tại đầu đường Hai Bà Trưng cũ nối liền Ngã Tư Phú Nhuận tới ranh giới khu Tân Định.  Đường Cộng Hoà nhường chỗ cho Nguyễn Văn Cừ để đành trấn tại khu Bà Quẹo....Thêm vào đó có lẽ họ có quá nhiều anh hùng mà lại không đủ đường để đặt tên nên đành thu xếp cho những anh hùng đó tạm thời chia nhau cai quản một con đường như Trương Minh Giảng thành Trần Quốc Thảo và Lê Văn Sĩ, Công Lý biến thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nguyễn Văn Trổi....Họ làm thêm nhiều đường trước đây chưa có, và mở rộng những đường chính.  Nhiều người bị lóa mắt về sự nới rộng cũng như mở thêm đường mới này và cho rằng Việt Nam đang phát triển tột bực.  Tôi đã đi lang thang khắp nơi trên nhiều xe ôm do đủ mọi hạng người thuộc nhiều lứa tuổi chạy.  Khi được hỏi về việc nới rộng đường xá, những người đó đều bảo tôi đó là điều kiện các hãng ngoại quốc đặt ra để họ vào hoạt động tại Việt Nam, vì như vậy hàng hóa họ sản xuất mới có phương cách đến tận tay người tiêu dùng một cách dễ dàng hơn.  Những công ty đó tài trợ một nửa chi phí các dự án cầu đường, còn một nửa vay quốc tế.  Tin tức này phát xuất từ thân nhân của những người làm việc với các công ty ngoại quốc đặt văn phòng tại Saigon.  Còn ‘’nhà nước ta’’ thì chẳng tốn một đồng xu cắc bạc nào cả mà lại còn được ‘’những Việt kiều yêu nước’’ tâng bốc lên đến tận trời xanh.  Một vài dự án đặc biệt được chính phủ các nước khác đài thọ hoàn toàn như xây cầu Mỹ Thuận ở Vĩnh Long do Úc viện trợ, canh tân quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng do Chính Phủ Nhật tài trợ....

 

Lúc khát nước tôi mời anh xe ôm cùng ghé vào một quán nào đó ở vỉa hè hay bên ngõ hẻm.  Tôi không dám dùng nước đá vì sợ làm bằng nước không tinh khiết sẽ bị đau bụng rồi tiêu chảy thì sẽ hết đi đây đó.  Tôi chỉ gọi chai nước suối ướp lạnh là chắc ăn nhất.  Người thân dặn tôi hai loại nước chai hợp vệ sinh là nước suối Vĩnh Hảo hoặc nhãn hiệu La Vie, tại những nơi không có hai hiệu trên tôi cũng uống đại những chai nước hiệu khác, may mắn không có gì đáng tiếc xẩy ra.  Uống nước nhiều phải kiếm chỗ để tháo ra.  Đây là một điều hết sức bất tiện cho những người đã quen sống ở Tây Phương. 

 

12.  Ghé Thăm ‘’Lăng Bác’’

 

Các nhà vệ sinh công cộng ở Việt Nam đều thu lệ phí.  Thường là 1,000 đồng một người cho một lần, riêng ở bãi Sau Vũng Tàu thu 2,000 đồng. Tất cả các nơi này đều hôi hám, mất vệ sinh, kể cả lối dẫn vào cũng nhớp nhúa.  Vào đến nơi thì muốn nôn oẹ vì mùi hôi xông lên nồng nặc, chỗ đựng nước để xối cầu là môi trường tốt để muỗi sinh sản, do vậy khách vào trong đó thường là những mồi ngon của đàn muỗi đói luôn vo ve có thể mang mầm mống bệnh sốt rét.  Ngoại trừ quá đáng lắm còn không thì mọi người đều cố chờ khi về đến khách sạn, hay là vào những tiệm ăn.  Do đó không thiếu những người đi thăm Việt Nam về bị chứng táo bón vì thường phải cố nhịn bất đắc dĩ như vậy.  Điểm đặc biệt tại những nhà vệ sinh công cộng ở Việt Nam là không bao giờ có giấy vệ sinh  cả.  Khi trả tiền mỗi lần vào, khách được phát một tờ giấy mỏng, sần xùi, cỡ miếng giấy lau muỗng đũa ở các tiệm ăn, thường là mầu trắng đục hay đỏ lợt, đôi chỗ không có, vì vậy mỗi lần đi phố tôi đều xé sẵn giấy đi cầu bỏ đầy hai túi sau quần, trông xa tưởng như một cọc tiền.   Đã hơn một lần mớ giấy vệ sinh dầy cộm này không cánh mà bay.  Tôi hiểu rằng một vị nhám tay nào đó đã khéo léo đỡ nhẹ và có lẽ ngay tức thì tôi đã được vị này tặng cho từng tràng ‘’nho chùm’’  vì đã khiến cho quái khách đó ‘’bé cái lầm’’.

 

13.  Món Ăn Ngon Ở Saigon

 

Vào giờ ăn trưa, vì đã quá lâu chưa được thưởng thức bánh xèo nên tôi yêu cầu anh xe ôm đưa đến khu chuyên bán món này.   Anh chở tôi tới đường Đinh Công Tráng thuộc vùng Tân Định.  Tại đây có khoảng vài gian nhà lớn chuyên bán bánh xèo cùng các món khác.  Một chỗ khác cũng nổi tiếng về món bánh xèo hiện nay ở Saigon thì oái oăm thay lại là một tiệm nằm trên sân cỏ trống trước kia của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trên đường Trần Quốc Toản cũ đã được đề cập đến ở phần trên.  Đinh Công Tráng thực ra chỉ là một ngõ hẻm hơi rộng với chiều ngang khoảng 5 thước, hai bên không có lề đường, thế mà xe hơi cũng chạy qua được.  Tôi không hiểu khi hai xe cùng chạy vào hẻm đó ngược chiều nhau thì họ tránh nhau ở chỗ nào.  Vài căn nhà nhỏ xung quanh đó đã hy sinh bớt chỗ ở vốn đã chật hẹp để dành căn phòng ngoài làm chỗ giữ xe hai bánh của khách đi ăn, mỗi xe 2,000 đồng.  Hầu như tất cả mọi người đều cố gắng tận dụng mọi thứ để kiếm thêm tiền chi dụng cho gia đình.   Đến khu ăn uống này thì màn níu kéo khách hỗn tạp, ồn ào và căng thẳng như xưa kia tôi thường chứng kiến khi ngồi xe đò chạy ngang qua cầu Bến Lức hay bắc Mỹ Thuận.  Như vậy thì những người cùng nghề ở đây khó mà chung sống hoà bình với nhau được.  Luật mạnh được yếu thua thể hiện rõ nét nhất tại nơi này. 

 

Hai thanh niên lực lưỡng có vẻ lanh lợi ‘’hộ tống’’ chúng tôi đến tận bàn và còn lịch sự kéo ghế mời chúng tôi ngồi.  Vừa ngồi xuống tôi bỗng giật mình vì tiếng nổ bốp bốp vang lên.  Ngẩn ngơ nhìn sang bàn bên tôi mới biết thực khách ở đó đập bao ny lông nhỏ để lấy khăn lau mặt ướp lạnh.  Đây là mốt mới tại hầu hết các tiệm ăn ở Việt Nam bây giờ.  Một bao ny lông độ bằng nửa bàn tay trong đựng khăn trắng ướt sũng nước và ướp lạnh được hầu bàn mang đến.  Khách xoắn một đầu bao rồi lấy tay còn lại đập vào đầu kia, vì tức hơi bao vỡ ra, gây tiếng động như tiếng nổ, khách lấy ra một cái khăn trắng mát lạnh, mỗi bề khoảng 15 phân lau mặt và lau tay trước khi ăn.  Tôi cũng dùng thử thì chợt rùng mình vì cái mùi không được thơm tho cho lắm từ khăn bốc ra.  Cho đến khi có dịp thưởng thức qua nhiều tiệm ăn ở Việt Nam tôi mới được biết những khăn đó sau khi được dùng sẽ có nhà thầu đến lấy, đem về giặt rồi cho vào bao ny lông trên bao có ghi địa chỉ, số điện thoại cùng tên hãng làm. Trên nguyên tắc thì như vậy, nhưng trên thực tế không biết họ có giặt hay không và giặt kỹ đến cỡ nào, vì tôi thấy độ trắng của khăn tại mỗi tiệm ăn đều khác nhau, từ trắng tinh đến trắng đục hay trắng nhờ nhờ.  Từ đó tôi không bao giờ dám đụng đến khăn loại đó nữa và dùng giấy vệ sinh mà tôi đã bỏ sẵn ở sau hai túi quần, vừa sạch sẽ lại đỡ tốn tiền vì các chủ tiệm tính mỗi khăn là 2,000 đồng, còn ở những tiệm sang thì giá gấp đôi. Chúng tôi gọi hai cái bánh xèo đường kính mỗi bánh độ 3 tấc, mỏng dính như tờ giấy, hai dĩa bánh hỏi thịt nướng cùng hai chai bia, giá cả hơn 200,000 đồng, khoảng gần 15 $US, khá đắt, hèn gì họ chiến đấu dữ dội để kéo khách về tiệm họ. 

 

14.  Ái Tình ‘’khuyến mãi’’

 

Đang uống trà tráng miệng trước khi rời tiệm bánh xèo có một cô không biết chui ở đâu ra hiện đến, tự nhiên kéo ghế ngồi xuống bên cạnh tươi cười gật đầu chào. Cô gái trông tương đối xinh xắn và còn trẻ khoảng độ 25, 26 tuổi với cách trang điểm hơi quá lố, và cách ăn mặc có vẻ kệch cỡm.  Có một điểm lạ là chẳng thấy một người hầu bàn nào đến hỏi cô ta ăn uống gì.  Sau khi tự động giới thiệu tên cô ta nói tiếp : ‘’ Tươi mát không anh?  Hôm nay em có chương trình ‘’khuyến mãi ‘’ đặc biệt, em giảm giá 10%.  Thêm vào đó khi xong một lần thì em sẽ tặng không cho anh thêm một phùa nữa.’’  Tôi ngẩn người.  Chợt nhớ tới chữ khuyến mãi tôi mới nghe sáng sớm hôm nay do các ‘’môn sinh trường hành chính quốc gia’’   đề cập đến, tôi lại càng mù tịt hơn.  Nhìn sang anh xe ôm để cầu cứu thì anh ta chỉ cười cười mà không cho tôi một lời giải thích gì cả.  Túng thế tôi đành hỏi cô gái dạn dĩ kia : ‘’ Cô nói cái gì mà có chữ giảm giá, tôi có thấy cô buôn bán gì đâu’’.  Cô gái cười phá lên rũ rượi vì có lẽ vì thấy tôi quá cà quỷnh.  Cô ta giải thích rõ là cô bán thân thể cô ta cho tôi.  Lúc đó tôi mới thủng câu chuyện .  Té ra cô ta ‘’on sale’’ chưa từng thấy, lại còn bắt chước kiểu ‘’buy one, get one free’’ của Mỹ nữa.   Ôi chữ nghĩa Việt Nam sao bây giờ rắc rối, khó hiểu đến thế.   Tôi cũng lấy làm lạ tại sao lại có chuyện chào mời bán dâm một cách công khai như vậy.  Còn việc bớt 10% mới là kỳ quặc.  Có ai ấn định giá chính thức việc này là bao nhiêu không mà biết bớt bao nhiêu phần trăm.  Thấy tức cười tôi trả lời cô gái : ‘’ Tôi cũng mới xong hai phùa trước khi đến đây.  Cô mà rủ tôi nhận lời đi chùa với cô một lần nữa chắc là tôi sẽ chầu ông bà, ông vải sớm lúc đó có lẽ cô gặp rắc rối à nghe.  Thôi để tôi tạm lấy lại sức rồi hẹn cô trưa mai ở đây nghen’’.  Biết gặp thứ ba trợn cô gái bèn xô ghế cái rẹt, đùng đùng bỏ ra ngoài trông không còn vẻ gì gọi là liễu yếu đào tơ  hay yểu điệu thục nữ nữa và tỏ vẻ bực bội khi lầu bầu : ‘’ Sáng ra đã gặp thằng cha già hắc ám, chắc bữa nay ế độ’’.  Qua cách‘’tiếp thị’’thân xác trắng trợn như vậy tôi thấy thường thường con người khi bị đẩy vào bước đường cùng, không còn một chút hy vọng le lói ở cuối đường hầm, cũng như không còn con đường kiếm sống đâm ra liều lĩnh, làm đủ mọi chuyện để tranh sống, chẳng còn sợ hãi gì nữa.  Tôi còn gặp cảnh ‘’tiếp thị’’ độc đáo này rất nhiều lần khi tản bộ qua những khách sạn, và nhất là tại ngã tư Nguyễn Huệ và Lê Lợi gần chỗ bùng binh phun nước.  Một đội ngũ xe ôm đứng chờ, khi thấy khách bộ hành nào có vẻ lớ ngớ, ngó ngang, ngó dọc thì có lẽ họ đoán nếu không là Việt kiều thì ít nhất cũng ở tỉnh khác về Saigon chơi bèn mở lời chào hàng ‘’ Tươi mát không anh hai, lên xe em chở anh hai tới bến’’  Thế đấy, quê hương ta bây giờ ‘’thân thiện’’ và ‘’chào mời thật là nồng hậu’’ như vậy đó !

 

15.  Ngôn Ngữ  Của ‘’Đỉnh Cao Trí Tuệ’’

 

Ngoài hai từ ngữ tươi mát và khuyến mãi tôi mới học được bữa nay, trong những ngày thăm quê hương tôi đã ngớ người ra nhiều lần vì chẳng hiểu người đối diện hay tờ quảng cáo hoặc một bài báo muốn nói gì.  Một lần lẽo đẽo theo vợ vô hàng vải ở chợ Hà Lầm gần thị trấn Hòn Gai, Bắc Việt, đứng sớ rớ hầu vợ mãi cũng buồn nên tôi làm bộ sờ đại một khúc vải rồi vê vê làm như thử coi có phải là loại vải tốt hay không thì vợ chồng chúng tôi đều thộn mặt ra khi cô bán vải chỉ vào tấm vải đó và nói : ‘’ Vải đểu đó cô chú ạ ‘’ .  Ối ông bà, cha mẹ ơi, từ trước đến giờ tôi mới chỉ biết đến người đểu thôi, chứ vải làm sao mà đểu cho được.  Hay là cô ta cho tôi là đểu đây, nhưng làm sao cô ấy biết được nhỉ ?  Có lẽ khuôn mặt của vợ chồng tôi lúc đó trông quá ngố nên cô hàng vải nói thêm : ‘’ Cháu muốn nói là vải đó không tốt đâu.’’  Tôi gật gù : ‘’ Cũng có lý, cái gì không tốt đều gọi là đểu hết cho gọn’’.  Ngày trước chữ cao cấp dùng làm bổ túc từ cho những chức vụ hay ngạch trật dân sự hoặc cấp bậc trong quân đội, chẳng hạn như sĩ quan cao cấp hay viên chức cao cấp, thì ngày nay chữ đó được dùng với đủ loại vật dụng như quần tây, áo sơ mi và ngay cả guốc dép nữa.  Hay là họ muốn ám chỉ khi mặc quần, áo cùng đi guốc được bán tại những nơi trên thì người đó sẽ trở thành một nhân vật cao cấp chăng ?  Trong  lần đi thăm Vũng Tầu, xe chạy đến bến Sao Mai để mua cá tươi.  Vợ tôi chỉ vào những con cá chim trắng đang chất trong rổ, một loại cá thật ngon chỉ thấy bán trong những tiệm ăn ‘’cao cấp’’ và hỏi giá.  Người bán nói giá là 100,000 đồng một ký, hơn 6 $US, gấp đôi những loại cá khác, khi hỏi tại sao lại đắt quá vậy thì chúng tôi lại có thêm một chữ nữa để học lúc nghe người bán hàng trả lời : ‘’ loại cá này suốt đấy cô ạ’’ lại hỏi thăm về chữ suốt thì mới rõ là bất cứ thứ gì được các tiệm ăn hay khách sạn thu mua hết không để lọt ra chỗ bán lẻ thì đều gọi là suốt.  Một buổi tối các cháu tôi đòi được dẫn đi nghe hát vì tối đó có nhiều ‘’ca sĩ hồi hộp’’ .  Tôi lại một phen điên đầu với cách dùng chữ dị hợm bây giờ.  Ca sĩ gì mà lại hồi hộp ?  Tôi hỏi thì xấp nhỏ trả lời ‘’ tại cậu không biết đó chứ cặp ca sĩ này hát vừa nhuyễn, lại lắc lư theo bài hát trông mê tít, hồi hộp chết đi được’’.  à, thì ra ca sĩ mà lắc lư theo lời ca tiếng nhạc làm mê mẩn nhiều con tim thì được gọi là ca sĩ hồi hộp.  Thật là chữ với nghĩa!   Nhưng cũng chưa bằng một lần tôi gần đứng tim với chữ xử lý.  Chiếc xe van đưa chúng tôi từ Saigon ra Hà Nội khi vừa qua khỏi Nha Trang bỗng phát ra những tiếng động khác thường.  Tài xế ngừng xe, sau khi xuống ‘’kiểm tra’’ nói ống khói bị gẫy, cần phải ‘’xử lý’’ gấp.  Tôi hết hồn khi nhớ lại những ngày trong trại cải tạo lúc các cán bộ trại giam đòi xử lý trại viên.  Có gì đâu, xe hư thì đem tới ga ra để sửa, bầy đặt nói chữ đem xe đi xử lý! 

 

Những chữ ngắn, gọn, bình dân, dễ hiểu và thông dụng không dùng mà lại tập cho quần chúng dùng những chữ ngô nghê, kỳ cục, khó hiểu.  Không biết đó là do tâm trạng mặc cảm dốt hay nói chữ, hoặc vì tất cả mọi chuyện, mọi chữ ‘’ngụy’’ khi xưa đã dùng rồi nên ‘’cách mạng ‘’ phải làm khác đi, phải cố tìm ra chữ khác để thay thế hầu chứng tỏ ta đây cũng có ‘’văn hoá’’ như ai vậy.  Còn nhiều chữ lạ nữa như ấn tượng, bức xúc, giá mềm, giá cứng.... và những chữ khác mà tôi chưa biết hết được. Có lẽ những ‘’khúc ruột ngàn dặm’’ phải đi học một lớp những ‘’chữ Việt tiến bộ’’ để khi về thăm quê hương mới có đủ ‘’trình độ’’ mà nói chuyện .

 

16.  Cũng Đành Nhắm Mắt Đưa ‘’Tay’’

 

Một chính quyền tự nhận là dân chủ, của dân, do dân và vì dân luôn luôn tìm cách cải tiến lề lối phục vụ dân chúng, bỏ bớt những thủ tục rườm rà, mở những văn phòng hay hộp thư để tiếp nhận nguyện vọng, ý kiến, đề nghị, thắc mắc hoặc khiếu nại của mọi người, tỏ ra luôn gần dân, thân dân.  Các nguyên tắc, thể lệ, luật lệ... chi phối sinh hoạt đời sống hàng ngày của dân chúng phải minh bạch , rõ ràng, không có những đoạn văn tối tăm muốn hiểu sao cũng được để có thể tạo ra những vụ nhũng lạm quyền thế do cách giải thích sai lạc các điều lệ đó.  Ở Việt Nam bây giờ thì trái lại, tất cả mọi việc đều nhiêu khê, phiền phức, mất nhiều thì giờ, qua nhiều cửa ải, mà cũng chưa chắc xong, nên nạn tham nhũng, hối lộ gần như là ‘’quốc sách’’.  Trở lại vụ các quan cảnh sát giao thông nêu ở trên sở dĩ lộng hành được như vậy là do thủ tục nộp phạt rất ư phi lý.  Thay vì gửi số tiền bị phạt kèm theo giấy phạt tới chỗ nhận tiền phạt qua đường bưu điện, thì đằng này người bị phạt phải đích thân đem giấy phạt tới trụ sở Ngân Khố nhà nước chầu chực tới phiên đóng tiền phạt, xong sẽ được cấp biên nhận, rồi mang biên nhận đó tới trụ sở cảnh sát giao thông mà chỗ ghi phạt trực thuộc, lại chầu chực tới phiên trình biên nhận đóng tiền mới được trả lại giấy đăng bộ xe cùng bằng lái xe đã bị quan giao thông tịch thu khi đưa giấy phạt.  Thủ tục này nếu xuôi chèo mát mái thì cũng phải hết một ngày nếu không muốn nói là hai hay đôi khi ba ngày, phải bỏ hết công việc làm ăn để đi hầu các quan.  Do đó khi bị thổi còi chận xe lại thì hầu như ai cũng đành phải ‘’nhắm mắt đưa tay’’ vào túi móc tiền ra cho lẹ để còn đi lo công việc.  Cũng có thể chính quyền đương thời đặt ra thủ tục vòng vo tam quốc chí này để ‘’hữu sản hóa’’ nhân viên, giúp cho họ mau chóng có đủ tiền mà mua xe ‘’bình bịch’’.  Hèn chi chỉ ở Việt Nam mới có chuyện cảnh sát giao thông dùng xe riêng đuổi theo các xe vi phạm luật lệ lưu thông thay vì dùng công xa.  Thôi thì cũng là một cách tiết kiệm công quỹ, không tốn tiền mua cùng bảo trì công xa, chi phí tài xế, xăng nhớt mà nhân viên lại tích cực làm việc.  Có lẽ ‘’Đảng ta’’ nên phổ biến mưu kế này cho chính quyền các nước khác trên thế giới noi theo để ngân sách những nơi đó đỡ thâm thủng !

 

17.  Văn Phòng Dịch Vụ : Một Quái Thai Của Thời Đại

 

Điểm đặc biệt ‘’nổi cộm’’nhất của guồng máy chính quyền tại Việt Nam bây giờ là bất cứ một nha sở nào đều có một văn phòng dịch vụ tương ứng.  Tôi chưa biết rõ nhân viên văn phòng dịch vụ này do tư nhân tuyển dụng hay nhân viên nhà nước được biệt phái qua.  Nhiệm vụ của những văn phòng dịch vụ này là giúp cho đơn từ của dân chúng được giải quyết mau lẹ.  Ví dụ khi bạn mua hay bán nhà đương nhiên bạn phải nộp đơn ở Sở Nhà Đất.  Nếu cứ để lặng yên cho công bộc sở này tự giải quyết bạn phải chờ từ hai cho đến ba tháng giấy tờ về việc mua bán nhà mới hoàn tất.  Còn nếu bạn biết điều mà tới văn phòng Dịch Vụ nhà đất đóng lệ phí, khoảng vài ba trăm ngàn tùy từng việc, và ghi rõ tên tuổi cùng địa chỉ của người đã nộp đơn thì thường thường bạn có giấy tờ cần thiết trong vòng tối đa hai tuần lễ.  Có lẽ đây là một hình thức kinh doanh hợp pháp của chính quyền vì tờ quảng cáo của các văn phòng dịch vụ với địa chỉ và số điện thoại được dán cùng khắp nha sở tương ứng và trụ sở văn phòng dịch vụ đó thường ở gần nha sở và người ra vào rất ư là tấp nập.  Hoạt động mạnh nhất là văn phòng dịch vụ xuất nhập cảnh, hải quan, du học.   Như vậy ta thấy rõ ràng ‘’chính quyền cách mạng’’ đã đi ngược lại trào lưu tiến hoá của nhân loại khi mọi nơi đều cố gắng giản dị hóa guồng máy chính quyền để công việc được giải quyết trơn tru trong một thời gian ngắn nhất thì đằng này các quan ta lại cố ý ‘’ngâm tôm’’ giấy tờ và chỉ chiếu cố đến những đơn từ nào đã qua cửa ải phụ thu mà thôi.

 

Văn phòng dịch vụ đôi khi còn đóng vai trò môi giới, trung gian khi thẩm quyền giải quyết một công việc nào đó liên quan đến hai, ba hoặc nhiều hơn nữa những nha, sở, bộ khác nhau.  Môi trường thích hợp nhất để giới thiệu, quen mặt nhau giữa đương đơn và các chức quyền trước khi đi vào vấn đề chính thường là những tiệm ăn, quán nhậu, karaoke hoặc vũ trường tùy ý thích của các quan mà nhân viên văn phòng dịch vụ có bổn phận phải biết rõ vì như vậy ‘’việc công’’ mới được ‘’giải quyết’’ mau lẹ và túi của các quan ta mới phồng to.  Tùy theo sự rắc rối, phức tạp và mức độ quan trọng của công việc cần giải quyết mà ‘’buổi sơ ngộ’’ đó được diễn ra tại địa điểm thật sang, bậc trung, hoặc thường.  Đó là lý do giải thích cho sự phát triển của loại kinh doanh ăn uống, nhậu nhẹt cùng những biến dạng của nó như karaoke ‘’gia đình’’ hoặc vũ trường mọc lên khắp các hang cùng ngõ hẻm Saigon Chợ Lớn và ở cả những thành phố khác khắp Việt Nam ngày nay như cỏ dại đua nở sau cơn mưa rào.  Những chỗ ăn nhậu bình dân trên mọi vỉa hè, bên hông con hẻm với chất cay chủ yếu là nếp than hay bia nội địa như Saigon hay 333 (ba số 3, chứ không còn là 33 như trước nữa) hoặc rượu đế thì rẻ nên được mọi giới lao động chiếu cố.  Tất cả đều ngự trên những ghế đẩu hay ghế nhựa, loại thường dành cho trẻ em, quây quần xung quanh cái bàn gỗ tạp, gọi thêm dĩa mực khô, một chút đậu phọng rang là có thể bù khú với nhau những chuyện trên trời dưới đất để tạm quên đi cuộc sống vô định không thấy tương lai. 

 

18.  Mùi Vị Quê Hương

 

Tệ nạn ăn nhậu ở vỉa hè này đưa đến sự ‘’xuống cấp’’ tình trạng vệ sinh hè phố.  Các quán vỉa hè lấy đâu ra nhà vệ sinh riêng, nên các đấng mày râu khi tức bụng cứ việc ngang nhiên xả bầu tâm sự tại những vách tường, đôi khi ngay cả trước nhà đã đóng cửa vào lúc tối cách chỗ nhậu khoảng độ vài ba thước.  Lâu dần những chỗ đó xông lên ‘’mùi vị quê hương’’ không thể lẫn lộn được.  Hình như việc phóng uế tùy tiện này đã trở thành thói quen nên mọi góc đường chỗ hơi khuất đều trở thành những vị trí thuận tiện.  Một lần khi đang ngồi trên xe chiêm ngưỡng phố phường Hà Nội, vừa tới bờ thành của nhà giam Hỏa Lò ( nơi xưa kia đã từng giam giữ tù binh Mỹ, giờ đây đã bị phá bỏ và một nhà cao tầng được cất lên lấy tên Hanoi Tower, nơi đặt văn phòng của nhiều hãng ngoại quốc cùng các cửa hàng kinh doanh các loại.  Toà nhà này chiếm trọn khu tam giác bao quanh bởi các phố Hai Bà Trưng, Thợ Nhuộm và Hỏa Lò.  Riêng mặt xoay ra phố Hỏa Lò bờ thành cao cũ của nhà giam vẫn còn được giữ lại để làm di tích lịch sử ) tôi chợt thấy một bà đứng tuổi, đầu chít khăn mỏ quạ từ tốn bỏ quang gánh xuống đất, rồi tự nhiên ngồi xuống tiểu tiện ngay giữa phố đông xe cộ qua lại giữa trưa, điểm độc đáo là bà ta không thèm quay mặt vào tường mà lại trơ gan cùng tuế nguyệt hướng mặt ra ngoài đường có lẽ để tiện thể ngắm người cùng xe cộ đang dập dìu qua lại chăng ?  Một điều đáng nói là chỗ này có rất nhiều ngoại nhân qua lại. Thật chẳng giống ai.  Cạnh đó vài thước cũng có một nam nhân đang làm việc tương tự, nhưng vị này lịch sự hơn vì đứng quay mặt vào tường.  Điều đó nói nói lên một phần nào’’ sự hữu hiệu’’  của chính quyền.

 

19.  Trăm Ngàn Đổ Một Trận Cười Như Không

 

Đa số nhà hàng ở Việt Nam hiện nay, nhất là Saigon và Hà Nội, đều chia ra làm nhiều phòng to nhỏ khác nhau thích hợp cho mọi nhóm thực khách từ nhỏ nhất là sáu, bẩy người cho đến vài trăm.  Cách thiết trí này thích hơp với việc vừa ăn vừa bàn chuyện riêng tư.  Đôi khi hết phòng nhỏ thì vài nhóm ít người được xếp chung một phòng lớn.  Tôi thường thấy tại những bàn khoảng 5, 6 người trở lên bia được xếp từng két cạnh chân bàn, giá cả một chai bia ngoại thường là Heineken từ 15 đến 20 ngàn, khoản này bằng tiền chi tiêu một ngày của một gia đình bình thường gồm ba người tại Việt Nam bây giờ.  Ngoài bia trên mặt bàn còn có thêm vài chai Hennessy hoặc Rémy Martin loại XO với giá cả tương đương từ 100 đến 200 $US.  Thức ăn thì cũng gồm những món thường thấy tại những cao lâu Tầu ở Mỹ, đơn giá của một món không dưới 50 ngàn đồng.  Một vài lần tôi tình cờ thấy khi thực khách trả tiền họ thường lấy ra những tờ giấy 100 mỹ kim rút từ một cọc tiền mầu xanh xanh móc ra từ túi quần.  Tôi thấy mà chóng mặt rồi tự hỏi tiền ở đâu ra mà họ có nhiều đến như vậy.  Một điều tôi biết chắc những thực khách đó không phải Việt kiều vì những từ ngữ họ dùng và âm thanh giọng nói  của họ chỉ có những người ở miền Bắc bây giờ mới có mà thôi.  Tôi lại lẩn thẩn nghĩ một bữa nhậu như vậy có thể nuôi sống một gia đình bốn đến năm người ít nhất là năm tháng liền vì lương trung bình một nhân công hay viên chức nhà nước từ 800 ngàn cho đến một triệu một tháng, độ khoảng 60 $US .  Những bữa đốt tiền như vậy vẫn tiếp diễn đều đều không ngưng nghỉ vì chắc chắn những người bỏ ra số tiền kếch sù đó cho một lần ăn uống sẽ thu lại một số tiền lớn hơn nhiều.   Như vậy mọi người đều có lợi cả thì tại sao lại không tiếp tục phát huy nhỉ !  Cuộc vui buổi tối không dừng ở đây vì họ bô bô hẹn hò nhau sẽ di chuyển tới  một nơi khác thường là vũ trường.

 

20.  Đêm Vũ Trường

 

Những vũ trường được giới trung niên trở nên ưa chuộng hiện nay ở Saigon là Queen Bee, Tự Do và Maxim, toàn những nơi quen thuộc xưa kia. Arc-en-Ciel, Ritz, Đêm Mầu Hồng đều bị đóng cửa vì bán quá lộ liễu ‘’thuốc lắc’’, lại thêm một chữ mới nữa để học, dùng để chỉ một loại ma túy thường phát xuất từ Hòa Lan tên là ecstasy. Vũ trường Mỹ Phụng gần tượng Đức Trần Hưng Đạo giờ không còn nữa vì đã nhường chỗ cho một khách sạn lớn.  Khiêu vũ trường ở Việt Nam bây giờ có lẽ là nơi duy nhất trên thế giới hoạt động trọn bẩy đêm một tuần lễ.  Chỗ ngồi ở Queen Bee và Tự Do tương đối thoải mái và lịch sự hơn ở Maxim vì lưng ghế thấp, ngồi ở vị trí nào cũng nhìn thấy được ca sĩ cùng ban nhạc và toàn bộ sàn nhẩy.  Riêng tại Tự Do thì những chỗ ngồi ở dẫy sau cùng được đặt trên một bục cao nên tuy hơi xa sân khấu nhưng lại nhìn rất rõ toàn bộ khung cảnh trong vũ trường.  Chỉ đặc biệt ở Maxim, trên đường Tự Do cũ giờ đổi là Đồng Khởi bên cạnh khách sạn Majestic, thì ghế ngồi được thiết trí thật đặc biệt.  Mọi ghế đều làm theo hình cánh cung bao lấy một cái bàn nhỏ, lưng ghế thật cao do đó mỗi bàn đều là một thế giới riêng biệt.  Ngồi ở dẫy sau không thể nào nhìn thấy gì ở trước mặt vì đã bị lưng ghế trước che hết, và những người ở chỗ khác dù có đứng cũng không thể thấy có người ngồi chỗ đó và đang làm gì.  Chỉ ngồi ở hàng ghế đầu mới thấy được sàn nhẩy và sân khấu mà thôi.  Đa số khách đến vũ trường đều đi một mình, hoặc một nhóm bạn trai cùng đi với nhau.  Họa hoằn lắm mới có một cặp vợ chồng hoặc tình nhân đưa nhau tới.  Hình như đó là lý do giải thích sự hiện diện đông đảo của lực lượng vũ nữ tại các nơi trên.  Mỗi vũ trường đều có không dưới hai mươi cô, hầu hết đều trẻ đẹp và ăn mặc thật gợi cảm.  Các kiều nữ thường ngồi tại góc phòng ngay chỗ cửa ra vào như để lượng giá khách hàng, mặc dù thủ tục tại vũ trường vẫn không thay đổi nghĩa là các cô không được tự ý đến với khách mà phải do hoặc chính khách yêu cầu hay qua sự sắp xếp của chị ‘’cai gà’’ mà các cô thường gọi là ‘’má mì’’ mặc dù các tuổi các cai gà này chỉ  khoảng trên ba mươi và còn xuân sắc. 

 

Vũ trường Maxim khác lạ hơn các vũ trường khác không chỉ ở cách sắp xếp ghế ngồi mà còn độc đáo ở thủ tục trưng bầy các vũ nữ.  Trước giờ khai diễn khoảng 10 phút thường là 9 giờ tối, tất cả cô gái mua vui cho mọi người này đều ra sàn nhẩy đứng thành một vòng tròn và nhún nhẩy tại chỗ theo điệu nhạc từ các dĩa hát phát ra như để phô diễn sự hấp dẫn của thân thể được tạm che bằng những bộ quần áo thật khêu gợi đang uốn éo dưới ánh đèn mầu nhấp nháy, mờ mờ, huyền ảo hầu mời gọi các khách đơn chiếc lựa chọn.  Ngay cả trong giờ ban nhạc nghỉ giải lao những cô chưa có khách kêu ngồi bàn đều lập lại cảnh trên cho những khách đến trễ chiêm ngưỡng.  Hình như vì những điểm độc đáo đó mà tại đây có nhiều khách đi thành nhóm nhiều người có lẽ là những tốp người do dịch vụ giới thiệu tiếp tục cuộc vui sau bữa ăn nhậu vì hai lần do sự trùng hợp tôi đã nhận ra một người trong nhóm đó chỉ vì người này phát ngôn bừa bãi và to tiếng nhất đám khi ăn nhậu.  Họ thường gọi nguyên chai rượu mạnh và chất lỏng cay nồng đó lại tiếp tục tuôn chẩy với những kiều nữ chiều chuộng khách tối đa đã được họ lựa chọn kỹ càng bằng cách gọi nhiều cô đến tận bàn cùng một lúc rồi chỉ định những cô mà bọn họ ưng ý.  Điểm trớ trêu là quý vị không hề thấy những nhóm người ‘’vui xuân’’này bước ra sàn nhẩy mà chỉ nghe được những tiếng cười rúc rích phát ra từ những khoảng không gian riêng biệt đó.  Mới nhìn thoáng qua, người thưởng ngoạn tưởng khiêu vũ trường vắng khách vì sàn nhẩy rất trống, nhưng thực tế thì ngược lại.  Ban nhạc và ca sĩ tiếp tục nhả ra những âm thanh dìu dặt êm đềm của những nhạc khúc nổi tiếng Tây Phương cùng những bản tình ca êm ái Việt Nam xưa kia mà lúc mới ‘’giải phóng’’ chính quyền ‘’cách mạng’’ đã từng cấm cản vì cho là ‘’nhạc vàng ủy mị’’.  Không còn nữa những bài hát mà ‘’đảng ta’’ đã cố công nhồi nhét vào đầu óc dân chúng miền Nam lúc trước, chẳng hạn như : ‘’Đến Hẹn Lại Lên, Tiếng Kèn Ta Lư, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây....’’ có lẽ họ đã thử nhưng vì âm điệu và lời lẽ những bài bản đó ‘’quá êm dịu’’ nên chẳng ai thèm tới để thưởng thức thành thử các quan lớn đành phải chấp thuận cho trình diễn những bản nhạc mà một thời đã bị đả kích và cấm đoán triệt để.  Lươn lẹo, tiền hậu bất nhất, đổi trắng thay đen là đặc tính muôn thuở của người Cộng Sản.  Với bản chất lật lọng này thì những lời mà các ‘’quan cách mạng’’ âu yếm khuyến dụ những người cách đây không lâu họ đã từng mạt xát là thành phần đĩ điếm chạy theo bơ thừa sữa cặn của đế quốc, nay lại trìu mến gọi là ‘’khúc ruột ngàn dặm’’ trở về nước đem theo tiền bạc cùng kiến thức để góp phần vào việc xây dựng một Việt Nam đã bị ‘’đảng ta’’ làm cho rách nát, tiêu điều thì chỉ có những người khờ khạo, ngốc nghếch mới nghe theo mà thôi,  còn hầu hết những nguời Việt có lương tri, biết suy xét sự việc đều xa lánh. 

 

Những nghệ nhân của vũ trường làm việc rất say sưa như đang thả hồn vào lời ca tiếng nhạc mặc dù từ trên sân khấu nhìn xuống có lẽ họ chả thấy ai ngoại trừ lác lác một vài khán giả ở dẫy bàn đầu còn những người khác thì đang đắm mình vào những việc không một chút liên quan gì đến nghệ thuật khiêu vũ ở những khung trời riêng biệt đó.  Có lẽ tiếng khóc đòi sữa của con,  âm thanh ho xé cổ họng của vợ đã lâu không khỏi bệnh vì thiếu tiền mua thuốc, căn nhà dột chưa sửa lại đã kích thích những nghệ nhân, những ca sĩ đó đem hết tài nghệ ra trình diễn hầu kiếm đồng tiền lương thiện mặc dù khung cảnh chẳng văn minh, thiếu nghệ thuật đó thường làm thui chột cảm hứng trình diễn của bất cứ một nghệ sĩ chân chính nào.

 

Tôi tự hỏi thiếu gì chỗ để làm chuyện này thì tại sao lại lựa nơi chật hẹp, gò bó như vậy.  Hay là với tiếng nhạc làm nền thì dục tính được thăng hoa hơn chăng hoặc là cái gì không trọn vẹn mới thấm, mới kích thích thêm sự thèm thuồng.  Giờ đây vũ trường ở Việt Nam không còn là chỗ để thưởng thức nghệ thuật khiêu vũ với những bước nhẩy điêu luyện thật lả lướt và bay bướm, không phải là nơi giải trí để xua tan những mệt nhọc hàng ngày của cuộc sống mà chỉ thuần túy nhắm vào mục đích thoả mãn những thú vui  nhục dục,  một nơi phục vụ cho chuyện ‘’ân đền oán trả’’ với những ‘’áp phe’’ béo bở, những chức vụ cao hơn đang chờ đợi sau khi những cuộc vui đó được phục vụ tới nơi, tới chốn.

 

21.  Cái Học Ngày Nay Đã Hỏng Rồi

 

Những lúc lang thang trên đường phố Saigon tôi thường đi qua những nơi với bảng hiệu trung tâm luyện thi vào lớp này, lớp nọ của trường chuyên môn, cao đẳng hay đại học kể cả những nơi quảng cáo dậy đủ mọi thứ ngoại ngữ thường là tiếng Anh, tiếng Pháp, kể cả tiếng Đại Hàn.  Tôi rối tung đầu óc trước đủ các loại trường.  Tiểu học, trung học, cao đẳng đều có các loại trường công, bán công, dân lập, tư thục.  Tất cả đều phải đóng tiền kể cả trường công.  Mức độ khó khăn của việc thu nhận vào học các trường kể trên giảm dần theo thứ tự : trường công khó vào nhất, thường là con cháu đảng viên, những người có thế lực hay biết chỗ lo lót, rồi đến bán công, dân lập, cuối cùng tư thục là nơi tá túc của những học sinh không được nơi nào nhận cho học.   Cũng như tất cả mọi người hiện nay ở Việt Nam đều cố gắng dùng nghề mình để kiếm thêm tiền cho gia đình, các nhà giáo cấp tiểu lẫn trung học đều gián tiếp ép học sinh lớp mình đi học lớp do họ dậy thêm ở nhà bằng cách cho điểm cao những trò nào ghi tên học.  Dần dần hầu như cả lớp đều đi học thêm.  Do đó hiện nay các học sinh ở Việt Nam rất bận rộn trong việc học hành, ngoài giờ đến trường chính, giờ ăn cơm, ngủ buổi tối, thì giờ còn lại các em đều tự nhốt mình vào những lớp học kèm thêm mọi thứ.  Để tránh rắc rối, các nhà giáo bắt phụ huynh các em ghi tên học thêm viết rõ trong đơn gửi thầy, cô yêu cầu dậy thêm con cái của họ để những nhà giáo này phòng thân khi có việc thưa gửi.  Đạo đức xã hội chủ nghĩa có khác!  Lúc đầu tôi cũng vui vui trước việc các em đi học nhiều như vậy vì tôi nghĩ không nhiều thì ít các em cũng lãnh hội được thêm chút đỉnh khi so sánh với những trẻ không tham dự những lớp dậy riêng; nhưng khi coi lại bài vở của các cháu nhỏ trong nhà thì tôi không thấy sự khác biệt của việc học thêm này.  Thôi thì cũng là một cách để các nhà giáo bây giờ có thêm chút cháo cầm hơi mà theo đuổi cái nghề bạc bẽo đó.  Chỉ phiền là cha mẹ các em vốn đã mệt nhọc với miếng cơm, manh áo hàng ngày, thì nay lại thêm còng lưng, thêm đầu tắt mặt tối để lo khoản chi phụ trội cho việc ‘’mua bán chữ nghĩa’’ này. 

 

Các lớp dậy ngoại ngữ thì đa số về Anh Ngữ.  Có nhiều trường khác nhau, nhưng chỉ có một trường dậy tiếng Anh với thật nhiều chi nhánh hầu như ở khắp các nơi thuộc phạm vi Saigon Chợ Lớn với tên nghe hơi ngồ ngộ :  Trường Ngoại Ngữ Không Gian.  Khi thắc mắc tại sao lại có cái tên lạ đời như vậy, một người bạn học ngày xưa của tôi hiện vẫn còn ở Saigon trả lời : ‘’Có gì lạ đâu.  Trong cái trường này thì thầy nói thầy nghe, trò nói trò hiểu y hệt như những người ở trong không gian vì không có dưỡng khí để truyền âm nên âm thanh không dẫn đến tai mọi người nên chẳng ai hiểu ai muốn nói cái gì cả !  Vả lại trong không gian có rất nhiều hành tinh khác nhau, nào là Mộc Tinh rồi đến Hỏa Tinh, Kim Tinh....mỗi một hành tinh đó đều có ngôn ngữ riêng nên có ai hiểu ai đâu.  Thôi thì ai nói người đó nghe, như vậy càng đỡ mích lòng nhau.  Khi tôi hỏi lại để hiểu rõ hơn ý nghĩa lời giải thích này, người bạn tôi chỉ cười trừ.

 

22.  Lương Y  Như Từ Mẫu

 

Trước năm 1975 tất cả các tiện ích công cộng đều miễn phí từ giáo dục bậc tiểu và trung học đến ngành y tế.  Giờ đây, sau khi được ‘’giải phóng’’ nhân dân ta được ‘’vinh dự’’ đóng góp lệ phí khi con em đi học tại những trường công như đã nêu ở phần trên và  nhất là phải chi không ít khi cần đến bệnh viện công cộng.  Ngoài những giá biểu chính thức quá cao cho việc chữa trị tại những bệnh viện công, tất cả những nhân viên mọi cấp tại những nơi đó đều đòi hỏi tiền ‘’bo’’ tức là khoản tiền trà nước riêng trước khi bệnh nhân nhận được một hưởng dịch vụ nào đó từ việc được thu nhận vào bệnh viện, khám bệnh, chữa trị, có được giường nằm, ở phòng ít giường hay nhiều giường và kể cả việc giường có được thay khăn trải thường xuyên hay không.....tất cả đều tùy thuộc vào khoản tiền lót đường của thân nhân.  Do đó không thiếu những bệnh nhân đành phải bị đưa về nhà nằm chịu trận như để chờ một phép lạ của Thượng Đế giúp cho chứng bệnh trong người tự nhiên thuyên giảm vì không thể nào có được những khoản tiền trời ơi đất hỡi quá cao đó.  Một vài công ty ngoại quốc thấy vậy bèn du nhập ý niệm bảo hiểm sức khỏe như được áp dụng tại các nước văn minh trên thế giới.  Lúc đầu có một số người tạm dư giả nghe hữu lý bèn hăng hái tham dự, nhưng từ từ với những tệ nạn trà nước lót tay cho đủ mọi cấp của bệnh viện và nhất là với tình cảnh hình như bệnh viện Việt Nam chưa quen hay không thích thú cho lắm với thủ tục bồi hoàn y phí của các hãng bảo hiểm nên không được sốt sắng và nhậm lẹ khi tiếp nhận một bệnh nhân có bảo hiểm và coi các bệnh nhân loại này như những công dân bần cùng nên từ từ số người mua bảo hiểm giảm dần, và cuối cùng chương trình bảo hiểm y tế cũng đành ngậm ngùi mà cuốn theo chiều gió.

 

23.  Người Anh Em Môi Hở Răng Lạnh

 

Hầu như mọi thành phố lớn ở Việt Nam hiện tại đều có một chương trình truyền hình riêng biệt gồm năm hoặc sáu băng tần khác nhau hoạt động hàng ngày thường từ 6 giờ sáng đến 12 giờ khuya.  Không rõ dân chúng Saigon bây giờ mê môn bóng tròn, giờ đây được gọi là bóng đá, đến đâu, mà cứ vào 7, 8 giờ sáng ngày nào cũng chiếu những trận đấu của các đội banh thuộc Âu Châu.  Giờ đó mọi người hầu hết đều đi làm, ai hơi đâu mà banh mắt ra đã coi đá banh hết ngày này qua ngày khác ?  Lấy gì mà ăn, mà tiêu ?  Hay là đó cũng là một cách ru ngủ quần chúng, giúp cho những ai không có công ăn việc làm có chỗ tiêu sầu, quên đi cảnh túng đói, khổ sở của gia đình, làm giảm đi tâm trạng bất mãn. Đó cũng là một điều nói lên thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện giờ.  Điểm đặc biệt ở Hà Nội và thành phố Hạ Long cùng Hòn Gai chương trình truyền hình có ít nhất một băng tần hoàn toàn chiếu từ phim ảnh đến tin tức toàn nói tiếng Tầu, không có một giây phút nào nói tiếng Việt hay phụ đề Việt Ngữ cả.  Nếu biện hộ rằng sở dĩ có chương trình truyền hình nói toàn tiếng Hoa vì dân số họ ở những nơi đó đông e rằng không vững vì không đâu ở nước Việt Nam có số người Hoa đông bằng vùng Saigon Chợ Lớn, thế mà tại nơi đây dù có chiếu những phim ‘’chưởng’’ hay tâm lý xã hội Tầu thì những bộ phim đó đã được chuyển âm ra tiếng Việt, không còn nghe tiếng ‘’xí xa xí xô’’ của Hoa Ngữ nữa mặc dù cách chuyển âm hơi kỳ cục vì chỉ có một người nói một giọng cho đủ các vai khác nhau trong phim mà họ gọi là thuyết minh.  Liệu rằng đây có phải là một điểm nói lên việc chịu ảnh hưởng cùng sự chi phối nặng nề hoặc là bị khuất phục người anh vĩ đại phương Bắc của giới cầm quyền tại Việt Nam hiện nay không ?  Và cũng có thể đây là khởi điểm để rồi từ từ toàn thể đất đai Bắc Việt sẽ sát nhập vào lãnh thổ của người anh em môi hở răng lạnh này như trường hợp Thác Bản Giốc cùng vùng phụ cận mới xẩy ra vừa rồi.  

 

24.  Thực Trạng ‘’Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa’’

 

Khi dùng xe đi suốt theo chiều dài đất nước từ Saigon xuống Cà Mâu rồi trở lại Saigon và ngược ra miền Trung để tới Hà Nội, Hải Phòng, cùng thành phố Hạ Long và các thị trấn Hòn Gai, Hà Lầm ....trong những lần dừng xe dọc đường để vào những quán dùng bữa tôi thường để ý những khung cảnh chung quanh kể cả việc đi sâu vào các đường đất quanh co dẫn vào các thôn xóm ở mãi tận phía trong.  Mặt thật xã hội Việt Nam, thực trạng cuộc sống cùng cực của dân chúng mọi tầng lớp ở những chỗ này phơi bầy rõ ràng trước mắt tôi.  Đa số các nhà đều lợp tranh vách đất, nhỏ bé xiêu vẹo.  Đồ đạc trong nhà lỏng chỏng, hầu như chỉ có một cái chõng tre lớn, một đôi nơi thì lịch sự hơn có một cái phản gỗ cũ kỹ, bàn ghế gần như không có, góc nhà thường là nơi nấu nướng với vài cái nồi sứt tai, gẫy gọng đặt trên mấy viên gạch.  Các vách đất chỗ đó thường đen kịt vì ám khói.  Cả nhà với vóc dáng tiều tụy, khuôn mặt đờ đẫn, đăm chiêu thường quây quần trên sàn nhà đất xung quanh mâm cơm đạm bạc chủ yếu là cơm  với dĩa rau và ít con cá khô, một đôi nơi tôi chỉ thấy có cháo trắng và muối.  Tôi đã nhiều lần lặng người trước những hình dáng ốm o, gầy mòn, bụng ỏng của các em nhỏ hầu như chỉ được che thân bằng một cái quần xà lỏn ít khi được lành lặn.  Ngó kỹ thì gót chân các em đều bị nứt nẻ, vì có lẽ cả đời các em chưa bao giờ được diễm phúc xỏ chân vào một đôi dép.  Trong khi đó các phố xá, con đường mà xe chúng tôi đi qua không thiếu những nhà cao cửa rộng, nhưng có một điều rõ nét nhất là các nhà cất lên không đồng đều nhau : đang nhà tranh vách đất, hay nhà gạch cũ kỹ xiêu vẹo thì xen lẫn vài căn lầu, đôi khi có căn nhà lầu đứng chơ vơ quạnh quẽ giữa một thửa ruộng ngập nước.  Ngay tại Saigon cũng vậy không thiếu những căn nhà sập xệ trông như hoang tàn, bỏ phế chen chân với những nhà cao lêu nghêu. 

 

Sau khi hỏi thăm nhiều người tại nhiều chỗ có những hình ảnh tương phản đó tôi mới biết hầu như hơn phân nửa những nhà lầu mới cất đều do Việt kiều ở khắp các nơi trên thế giới bỏ tiền ra để thân nhân của họ xây lại nhà hầu mát mặt, mát mày với bà con chòm xóm, số còn lại là do những ông quan mới bỏ tiền ra xây.  Tại những địa danh nổi tiếng về việc vượt biên ngày xưa khi sự việc này lên đến cao điểm vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 như Hộ Phòng, Chu Hải, Hải Sơn. Bến Đá, Sao Mai... những căn nhà lầu nhiều vô số kể và cao ngạo nghễ.  Những xóm làng nằm dọc theo bờ biển ở khắp các miền của đất nước có nhiều nhà mới hơn là những nơi ở sâu trong vùng đất liền hay tại nơi núi rừng hiểm trở.  Đó cũng là điều dễ hiểu vì với lợi tức thấp kém của ngay cả những người có công ăn việc làm ở những thành phố lớn thì có đủ tiền để lo cho việc ăn uống, sinh hoạt hàng ngày cũng đã là may mắn lắm rồi chứ tiền đâu ra mà xây nhà ngoại trừ các quan lớn và những nhà có thân nhân vượt biên thành công.  Ngoài tiền viện trợ của thân nhân, những người ở Việt Nam bây giờ kiếm thêm tiền để xây nhà bằng cách bán bớt ít nhất là một nửa bề ngang của căn nhà mình đã có từ lâu.  Thường thường người mua đất đó trả tiền cho việc mua bán này bằng cách xây nhà lầu cho cả chủ cũ của miếng đất ngoài việc xây nhà lầu cho riêng mình.  Do vậy cả hai đều có nhà mới cao lêu khêu.  Đó cũng là lý do của việc chiều ngang những căn nhà lầu hiện nay ở mọi nơi đều co lại trông thật là thảm hại, y hệt như anh ốm đói kinh niên.

 

25.  Con Người Thật Của Chủ Nghĩa Xã Hội

 

Trong thời gian thăm đất Bắc tôi ghé qua vùng ngoại ô Hải Phòng thăm bà chị họ đã lâu không gặp mặt kể từ khi di cư vào Nam năm 1954.  Bố mẹ tôi nuôi chị vì chị mồ côi.  Tuy vai em nhưng tôi thua chị khoảng hơn hai mươi tuổi vì mẹ của chị là con trưởng, trong khi mẹ tôi là út ít trong nhà.  Trong lúc còn sinh tiền, bố mẹ tôi thường nhắc đến người chị dịu dàng, ngoan ngoãn, dễ mến ấy, còn kẹt ngoài Bắc, với vẻ ngùi ngùi thương nhớ.  Các cụ còn cho tôi biết chị ấy giống như mẹ nuôi của tôi vì rất thương yêu tôi, coi tôi như con và thường lo lắng chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ cho tôi lúc tôi còn thiếu thời.  Tôi thật sự xúc động khi bước vào nơi chốn mà chị gọi là nhà.  Nhà ngói cũ kỹ, điêu tàn, các cột lỗ chỗ những dấu vết của mọt ăn.  Căn phòng chính kê ba cái chõng tre ở ba góc nhà, một góc phòng để trống hầu cả nhà lấy chỗ ăn cơm, hình như đây là một khuôn mẫu sắp xếp nhà của những gia đình quá nghèo.  Ngay giữa nhà kê một bàn nhỏ trên để hình ảnh của những người thân đã khuất với vài mẩu nến đã cháy dở cùng bát nhang.  Cạnh gian chính là một gian rất nhỏ dùng làm bếp với hai chỗ nấu kê gạch, bên cạnh có những bó rơm và vài cành cây khô có lẽ làm củi chụm bếp.  Ngoài sân một giếng nước đã gần cạn ngự trên khoảng sân nhỏ đóng rêu.  Bên cạnh là một cái chuồng nhỏ hôi mùi phân heo mà tôi chả thấy một loại súc vật nào ở trong đó cả.  Ngó quanh tôi không thấy chỗ tắm và nhà vệ sinh.  Khi hỏi, tôi được biết mọi người trong nhà múc nước giếng rồi ra sau chuồng heo tắm, còn chuyện vệ sinh thì đào một lỗ ở sân sau nhà.  Cuộc sống thật cơ cực, không có cả những tiện nghi tối thiểu.  Đây là hệ lụy của chiến tranh hay là ‘’âm mưu phá hoại thâm độc của Mỹ Ngụy’’ ?  ‘’Giải phóng’’ đã gần ba thập niên rồi cơ mà.   Xin các vị hiện ngự trong Bắc Bộ Phủ nhớ cho là người dân nước Nhật chỉ cần khoảng hai thập niên để biến một đất nước bị tàn phá cùng kiệt quệ vì chiến tranh kể từ khi bại trận trong Đệ Nhị Thế Chiến  trở thành một cường quốc kinh tế, được cả thế giới nể vì.  Thêm một điểm nữa để các vị này lưu tâm là chính quyền của nước Nhật chỉ là những người bình thường chứ chưa bao giờ tự nhận là ‘’đỉnh cao trí tuệ của loài người’’ như các vị đã từng trơ trẽn nhận vơ, thế mà họ đã hoàn thành thật xuất sắc công việc tái thiết nước Nhật và nâng cao đời sống dân chúng nước họ không thua gì đời sống của những người ở các xứ Tây Phương.

 

Người chị họ chống gậy run run đứng dậy đón vợ chồng tôi cùng một vài người thân đi theo.  Hình như chị đứng không được vững, chân tay run rẩy,  trên tám mươi tuổi rồi còn gì, bình thường cũng đã yếu huống chi lại sống trong cảnh thiếu thốn triền miên, như vậy cũng là giỏi lắm rồi.  Tôi mà như vậy chắc hui nhị tì đã từ lâu.  Khi tôi giới thiệu tên tuổi từng người tới thăm chị hôm nay thì chị tôi ôm chầm lấy tôi, rồi ôm vợ tôi khóc nức nở, kể chuyện xa vắng, nhớ nhung.  Trông chị thật thảm thương, già lụm khụm, da dẻ nhăn nheo, hàm răng chỉ còn vài chiếc đen đen, quần áo lôi thôi, lếch thếch, hình như hơi nặng mùi, cũng không lấy làm lạ vì với sức khoẻ như  vậy thì làm sao ra sân mà tắm cho được.  Chị sướt mướt kể chuyện lúc xưa chị cực khổ như thế nào khi chăm nom tôi vì hồi nhỏ tôi quá tinh nghịch.  Chị không ngại ngùng kể từng chi tiết ngày đó tôi rắn mắt ra làm sao, thường trốn học để rong chơi đó đây, hay ăn vụng, nói dối còn hơn chú Cuội ở trên Cung Hằng..... thôi thì đủ mọi chuyện xấu của tôi thời còn nhỏ chị đem trình chiếu đầy đủ cho mọi người cùng thưởng ngoạn.  Ừ , thôi thì cứ để chị kể đi, có lẽ đó cũng là một cách giúp chị tạm thời qua đi những phiền muộn của cuộc sống lầm than, cùng những bẽ bàng của tuổi già xế bóng.  Sau khi thấy cơn xúc động của chị tạm lắng xuống, tôi lấy khăn giấy nhét trong túi sau đưa chị để chị lau bớt những giọt nước mắt có lẽ lâu lắm rồi mới có dịp tuôn ra để chào đón người thân thiết từ phương xa trở về.  Tôi nhắc vợ tôi biếu chị ít tiền, tuy không bao nhiêu nhưng cũng là một gia tài đối với người địa phương.  Ngắm chị nhận tiền rồi đếm tiền tôi thấy hình như chị  đã thành một người khác lạ, không phải là một người mới bù lu, bù loa đón tiếp chúng tôi hồi nẫy.  Chân tay chị hình như cũng đã hết run rẩy, mắt chị mở lớn hơn để nhìn rõ những tờ giấy xanh, nâu, đỏ,  những mầu sắc có lẽ đã từng làm chị quay quắt lâu nay.  Một người chị bà con của tôi hiện ở Saigon cùng đi theo với tôi ra Bắc chuyến này cũng đưa cho chị một số tiền thật khiêm tốn gọi là lấy thảo vì người đó không khá giả gì.  Tôi chưa bao giờ sửng sốt, ngạc nhiên trong đời bằng khi chứng kiến chị tôi vừa nhận tiền vừa mắng người đó : ‘’Sao mày cho tao ít thế ?’’  Tôi sững sờ, không thể tưởng tượng được một người nước mắt, nước mũi còn dàn dụa, vừa mới khóc trời sầu đất thảm như nhà có vài ba cái đại tang cùng một lúc lại có thế mắng mỏ một cách ráo hoảnh với một giọng thật đanh thép, chắc nịch như vậy được.  Cái gì đã biến đổi một người chị nhân hậu, hiền lành mà bố mẹ tôi đã thương mến thường xuyên nhắc nhở vì thiếu vắng ?  Giờ đây nơi chị thì tất cả những dịu dàng, dễ mến đã nhường chỗ cho đanh đá, chua ngoa; thật thà, đạo đức đã bị giả dối, đóng kịch đánh bật ra không còn chỗ đứng trong tâm của một người đàn bà gần đất xa trời. 

 

Tự nhiên tôi thấy chị thật xa lạ và tôi chợt nẩy ra ước muốn buổi trùng phùng ngày hôm nay chỉ xẩy trong cơn mộng nào đó chứ không phải thật sự đã diễn ra. Tôi tự hỏi đây phải chăng là sản phẩm của một xã hội đã băng hoại lòng tin, là kết quả đương nhiên của một chế độ chỉ biết lấy lừa lọc, dối trá làm phương châm xử thế hay đây chỉ là một vũ khí cần thiết để tranh sống, không thể không có của một con người bình thường ước mơ có được một đời sống thật giản dị với phương tiện để thanh thoả những nhu cầu căn bản nhất của con người, nhưng cuối cùng đã không đạt được và còn bị đẩy xuống tận bùn đen, tận đáy địa ngục của xã hội.  Với bản năng sinh tồn cố hữu của con người mà Thượng Đế đã ban phát cho từng sinh vật hiện diện trên trái đất này, chị tôi đã phải tập để thích ứng với môi trường đảo điên, lừa dối, để che đậy những cảm xúc thật sự của lòng mình, để lấy lòng những người xung quanh, nhất là những người có chức quyền hay ít ra là những người mà chị tôi cho rằng có thể gíúp gia đình chị tạm qua cơn ngặt nghèo dù chỉ trong giây phút phù du về mọi phương diện.  Với thời gian tập tành để thích ứng như vậy đã vài chục năm qua nên giờ đây cái vỏ che đậy lừa dối đó đã trở thành bản chất của người chị chân thật của tôi ngày nào.  Tôi lặng lẽ nhìn chị trong đau xót tột cùng như vừa đánh mất một báu vật.  Lúc từ giã chị để trở về Hà Nội tôi có cảm giác hụt hẫng và thầm cầu nguyện cho chị trong những ngày cuối của cuộc đời sẽ tìm lại những đức tính đáng yêu, dễ mến của ngày xa xưa, không còn phải lo âu, tất bật toan tính để sống còn và chị lại có những phút giây thanh thản trước khi trở về với cát bụi. 

 

26.  ‘’Chuyên Chính Vô Sản’’

 

Những ý nghĩ về người chị đã ám ảnh tôi suốt trong thời gian còn lại ở quê nhà và vẫn còn vương vấn trong tâm tư tôi khi trở lại miền đất tạm dung.  Tôi suy nghĩ nhiều về việc thay đổi tâm tính con người khi sống dưới chế độ Cộng Sản.  Tôi cũng thấy rõ cảnh phồn hoa đô hội nơi các thành phố lớn phần nhiều do sự tài trợ của các Việt kiều hiện đang định cư ở khắp nơi trên thế giới và một phần nhỏ từ những đồng tiền phi nghĩa của giai cấp thống trị tung ra vì quá thừa mứa.

 

Bản tin trên internet của VNExpress vào ngày 20 tháng 11 năm 2002 đã đăng tải lời thú nhận của Vũ Phương Liên, Quyền Vụ Trưởng Vụ Quản Lý Ngoại Hối của Ngân Hàng Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam :’’ Cho đến cuối tháng 10 năm 2002, số lượng kiều hối chuyển về nước trong tài khóa năm nay đạt hơn 2 tỷ Mỹ kim, vượt xa con số tài khóa năm ngoái chỉ có 1.7 tỷ Mỹ kim’’  Viên chức này cũng đã thẳng thắn xác nhận là nhờ khoản tiền khổng lồ do Việt kiều chuyển về đó mà chế độ Hà Nội đã có ngoại tệ để bù đắp thâm hụt các cân thương mại và góp phần quan trọng tăng cung ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng.   Số tiền do Việt kiều chuyển về nước này ta thấy thật quá lớn lao nếu đem so sánh với số tiền viện trợ của Hoa Kỳ cho miền Nam Việt Nam vào năm 1975 chỉ có 1.4 tỷ Mỹ kim mà cuối cùng cũng bị Quốc Hội Hoa Kỳ cắt bớt còn hơn 700 triệu Mỹ kim, đó là kể cả vũ khí, đạn dược cùng những dụng cụ chiến tranh được tính ra tiền, trong khi hơn 2 tỷ Mỹ kim chuyển về Việt Nam hiện nay toàn là tiền mặt.  Số tiền chuyển về này mới chỉ là con số chính thức qua các cơ sở chuyển tiền của Cộng Sản chứ chưa tính đến số lượng tiền tệ chuyển qua đường dây của tư nhân cũng như hầu hết các Việt kiều đều khai tại phi trường số tiền mang theo ít hơn con số thật sự đem về khi vào Việt Nam.  Sự việc này cùng với lời thú nhận của Vũ Phương Liên nói trên đã có thể đánh đổ tất cả những luận điệu tuyên truyền của bạo quyền Cộng Sản cũng như những lời tâng bốc trơ trẽn của các thành phần đón gió trở cờ là Việt Nam bây giờ đã phát triển, dân đã có cơm ăn áo mặc, đã tiến tới sự sung túc, giầu có.... nhờ vào ‘’sự sáng tạo và lãnh đạo anh minh, tài tình của Đảng ta’’.

 

Nếu chẳng may vì một lý do nào đó mà những nguồn  tiền bạc đổ vào nói trên bị cắt đứt thì không hiểu tình trạng người dân Việt Nam sẽ ra sao, nền kinh tế vốn đã què quặt của nước nhà sẽ đi về đâu trong khi chính quyền không có lấy một kế hoạch phát triển quốc gia, một chính sách nâng cao mức sống của toàn dân.  Đối với chính quyền hiện tại, mối lo duy nhất của họ là tìm mọi cách để đứng vững hầu bòn rút tài nguyên quốc gia, hầu tiếp tục dâng đất cho ngoại bang và đàn áp dân chúng để chia chác một phần nào những số tiền kếch sù của gần hai triệu người Việt đang sống lưu vong ở khắp các nơi trên thế giới gửi về nước giúp đỡ thân  nhân.  Chính quyền tìm đủ mọi mánh khóe trục lợi ngay cả trên những tai ương mà đám dân khốn khổ phải chịu đựng trong những cơn thiên tai.  Thay vì tạo điều kiện để những toán cứu trợ tư nhân cũng như những tổ chức nhân đạo mang tiền bạc cùng những phẩm vật cứu trợ tới tay nạn nhân cho mau lẹ, thì nhà đương cuộc lại ngăn cản, đôi khi còn bắt giữ những người trong các toán cứu trợ, cốt dành quyền phân phối những nguồn lợi béo bở đó.  Dân đói, dân khổ, dân chết không hề màng đến mà ‘’cách mạng’’ chỉ lo cho cái túi tham không đáy của chính họ.  Đâu còn nữa cái vỏ vô sản mà lớp quan lớn này đã khoác vào người để hô hào những thành phần lao động chân tay cùng nhau đứng lên đạp đổ những bất công xã hội hầu xây dựng một thế giới đại đồng trong đó mọi người đều bình đẳng với nhau để rồi tiến đến một việc hầu như chỉ có thể xẩy ra ở trong chuyện thần tiên dùng để kể cho trẻ con nghe vui tai trước khi đi ngủ đó là tất cả đều chỉ làm theo khả năng mà lại hưởng theo nhu cầu.  Giờ đây những ông lớn này đã trở nên những tay tư bản gộc, ngự trên những xe hơi sang trọng, bóng lộn đời mới nhất, ở trong những căn biệt thự nguy nga với đủ loại đồ đạc trong nhà được nhập cảng từ ngoại quốc, tham dự những tiệc tùng đắt giá thâu đêm suốt sáng và gửi con cái học tại những trường danh tiếng trên thế giới kể cả ngay tại Mỹ, một nơi mà họ đã từng gọi là kẻ thù hung hiểm nhất của loài người và thề không đội trời chung.

 

Lề lối sinh hoạt và cung cách làm việc của các ‘’công nhân viên nhà nước’’ của xã hội Việt Nam hiện nay đã nói rõ một điểm, ngoại trừ  việc chống đối chế độ mà ‘’đảng ta’’ gọi là phản động thì mọi người đều có quyền làm đủ mọi điều mà cá nhân ấy muốn nếu có nhiều tiền và thế lực.  Chính quyền không hề động đến một ai nếu họ thấy người đó không hô hào chống đối đòi lật đổ chế độ, vì quan to các cấp còn bận bịu kiếm ăn cơ mà.  Vấn nạn tham nhũng, tệ nạn xã hội đều bị bỏ ngỏ và làm ngơ.  Mạnh được yếu thua, khôn sống bống chết hầu như là phương châm để sinh tồn ở Việt Nam bây giờ.   Nhà cầm quyền đương thời cố làm cho hầu hết những công sở ở Việt Nam hiện tại có một bề ngoài thật đẹp, nguy nga, vĩ đại ngay cả các trụ sở xã dù ở những chỗ hẻo lánh, hoang vu thường là những nhà lầu ba, bốn tầng mà tôi có dịp thấy trên đường đi từ Cà Mâu đến Hòn Gai.  Có lẽ bạo quyền Cộng Sản làm việc quá phí phạm như vậy để cố tạo uy tín mà họ không hề có và cũng là để cho mọi người có ảo giác là ‘’nước ta đang tiến đến chỗ giầu mạnh’’ nhờ ‘’Bác và Đảng’’.

 

27.  Nhớ Nước Đau Lòng Con Cuốc Cuốc

 

Những mầu mè hoa lá cành, phù phiếm của ngoại cảnh trên đường phố với những công sở cao ngất ngưởng, nhà lầu mới, xe cộ các loại đan kín đường cùng đủ mọi thói hư tật xấu của các tầng lớp nhân viên nhà nước diễn ra ngay bên cạnh những tệ đoan xã hội khiến khách lãng du liên tưởng đến một cô gái lầu xanh, mặt hoa da phấn, với xiêm y đắt tiền, rực rỡ đầy mầu sắc cùng hương thơm ngào ngạt.  Những kẻ ngây thơ, khờ khạo, mù quáng, nhẹ dạ rất dễ dàng bị cái hào nhoáng bề ngoài của kiều nữ đó bắt mắt mà quên đi một ổ vi trùng đủ mọi thứ bệnh hiểm nghèo, quái ác đang ẩn núp bên trong người đẹp đó, sẵn sàng tấn công đến trí mạng những kẻ chót dại mà trao thân, đến lúc hối tiếc thì đã quá muộn màng.

 

Hơn bao giờ hết, giờ đây tôi mới thấm thía ý nghiã đích thực bản nhạc ‘’ Saigon Vĩnh Biệt ’’ của nhạc sĩ Nam Lộc.  Đối với tôi Việt Nam nói chung và Saigon nói riêng hiện tại thật gần gũi mà cũng thật xa cách.  Thật gần vì nếu muốn, chỉ với hơn hai mươi tiếng đồng hồ là tôi sẽ được ôm chầm lấy đất mẹ cùng tung tăng trên phố phường, sẽ được hít thở không khí oi nồng, đầy khói xe quen thuộc và cũng thật thân thương của quê hương tôi.  Nhưng Việt Nam cũng thật xa, xa trong tâm tưởng, xa trong lối sống, xa trong cách đối xử với nhau, xa qua cách suy nghĩ, cách nhìn cùng giải thích sự việc và quan trọng nhất là quá xa cách về ý thức hệ.  ‘’ Saigon ơi, ta đã mất người trong cuộc đời.  Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời......’’

 

Nguyễn Việt Tâm

Tháng 12  Năm 2002

 

 (1) Mẫu giấy này hảng máy bay phát cho hành khách để điền vào khi máy bay sắp sửa tiến vào không phận Việt Nam.

( 2 ) Tôi vẫn quen với chữ Trung Cộng của thời trước nên chưa thể dùng chữ trung Quốc được.