Lịch sử dân tộc Việt Nam

Hoàng Cơ Thụy

 

Thư LS Hoàng Cơ Thuỵ.

Ngoại ô Nam Paris ngày 10 / 17 tháng 12 năm 2001 Kính thưa toàn thể Đồng bào Quốc nội và Hải ngoại,

A - Tự giới thiệu Tôi tên là Hoàng Cơ Thụy, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1912 tại làng Đông Ngạc (tức làng Vẽ), huyện Từ Liêm tỉnh Hà Đông, Bắc Việt, hồi trẻ có làm Luật sư cạnh Toà Án Thượng Thẩm Sài Gòn (Nam Việt, giai đoạn 1943-1969 tức 26 năm) rồi Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Ai Lao (giai đoạn 1969-1975 tức 6 năm), nay chỉ là một lão già vô danh tiểu tốt, sống lưu vong từ ngày 30-4-1975 tại Pháp Quốc.

Trong 17 năm rảnh rỗi và suy tư trong lúc về già (từ 1984 đến 2000), tôi có "đơn thương độc mã"sáng tác một bộ sách lịch sử Việt Nam nhan đề Việt Sử Khảo Luận, gồm 15 tập dầy gần 4000 trang với hai mục đích :

1 / Cố gắng tái lập Sự Thật Lịch Sử nước ta từ thái cổ

đến hiện đại, mà xưa nạy thường bị các sử quan thời phong kiến, các sử gia thời thực dân hay cộng sản cố tình bóp méọ

2 / Từ cố gắng ấy, trình bày khách quan những đại tội của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện tại đối với Quốc Gia Dân Tộc.

Năm nay (Tân Tỵ) tôi lên lão 90, tuổi già sức yếu, bệnh tật triền miên, gần đất xa trờị Dù sao thì cũng đã được hưởng một cuộc đời tạm đủ phận danh, con cháu thành tài, thêm vài đứa chắt nhỏ, nên không còn chút tham vọng chi cho bổn thân hay gia đình.

Duy còn có một hoài bão trước khi nhắm mắt, là được thấy 78 triệu đồng bào trong nước sống yên vui trong Tự do Thịnh vượng.

B - Nhắc lại Quốc nạn 1. Sau khi đã xét lại lịch sử hơn hai nghìn năm qua của Dân tộc Lạc Việt, từ thuở sơ khai đến 1 200 năm đô hộ của Bắc phương, qua 900 năm thời quân chủ phong kiến rồi 90 năm của thực dân Pháp, chưa bao giờ ta thấy Dân Tộc Việt Nam đã bị tai nạn nô lệ hóa như hiện nay, dưới thời thuộc Cộng.

Không kể giai đoạn khai quốc của họ Hồng Bàng với 18 vua Hùng Vương, thì trong thời đô hộ Tàu, mặc dầu tổ tiên chúng ta mất tự chủ, song không mất tự do và cá tính một dân tộc riêng biệt và bất khuất. Những thái thú Tàu có tham lam tàn ác đến đâu cũng vẫn để cho dân Lạc Việt được sống tự nhiên nẩy nở. Họ còn đem văn minh Trung Hoa thời ấy, là Phật Lão Nho sang giảng dạy cái văn hiến của họ mà dân Lạc Việt cực kỳ hoan nghênh hấp thụ.

Qua đến 900 năm thời quân chủ phong kiến, các triều đại Đinh,

Ngô, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn Tây Sơn và guyễn Phước Tộc, tuy rằng mọi vua Việt vẫn nhìn nhận làm chư hầu của các thiên tử Tàu, cứ ba năm một lần tiến cống, song tất cả đều gìn giữ cái văn minh Phật Lão Nho của Tàu, coi như khuôn vàng thước ngọc, nhất là về mặt dân sinh thì hoàn toàn để cho Dân Tộc Đại Việt được tự do phát triển. Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi : hoàng đế Bảo Đại, vị vua sau cùng và mang tiếng chây lười hờ hững của nhà Nguyễn, vẫn còn dùng câu ^'y làm châm ngôn trị vỉ (coi S.M. Bảo Đại, Le Dragon dỴAnnam, Plon, 1980,

trang 296).

Sang đến thời thực dân Pháp, ở "thuộc địa"Nam Kỳ hay "bảo hộ"Trung Bắc Kỳ, các chính phủ Pháp đại diện bởi ông "Toàn Quyền Đông PhápỴỴ, mặc dầu triệt để cấm đoán và trừng trị nặng nề dân "An Nam"làm chính trị chống Pháp, song họ cũng để cho người dân được tự do sinh sống, lại đem thêm cái văn minh Tây phương sang để mở mang trí tuệ cho dân "An Nam mítỴỴ.

Họ gọi thế là "nhiệm vụ văn minh hóa của nước PhápỴỴ. Và toàn dân Việt Nam lại đã nô nức noi theo, từ việc bỏ chữ Hán và thay thế bằng chữ "quốc ngữ"gốc la-tinh do các nhà truyền giáo Tây phương chế biến ra từ thế kỷ thứ XVI (Bồ Đào Nha rồi Í Đại Lợi rồi Pháp), đến tinh thần khoa học và lý luận Tây phương.

2. Không may cho vận nước truân chuyên, đã bị 30 năm chinh chiến (1945-1975) do Hồ Chí Minh, chủ tịch đảng Cộng Sản Việt Nam, khởi xuớng với sự chỉ huy và viện trợ của Cộng Sản Quốc Tế.

Ngay trong giai đoạn đất nước chia đôi (1954-1975), dân miền Nam tuy có bị sống dưới những chế độ độc tài phát xít hay độc tài đen, gia đình trị rồi quân phiệt, song tự do, nhân phẩm và tài sản của họ vẫn còn được tôn trọng. Chỉ từ sau ngày 30-4-1975 đến nay, Đồng bào toàn quốc mới phải sống dưới chế độ gông cùm đảng trị của cộng sản : không chút Tự do, không dám ho hen lên tiếng chê bai chống đối, không chút tư gia tài sản. Nói tóm tắt, nhân dân ta từ năm 1976 không còn quyền làm chủ đất nước trong thời đại Dân chủ Tự do của toàn thể nhân loại hiện nay ; trái lại, phải làm thân nô lệ cho một nhóm người mà Đồng bào không hề lựa chọn, nếu chống đối thì đi trại cải tạo tập trung. Hết là "Dân vi quý"!

Còn bọn chúng thì sau 30 năm đã lường gạt lôi cuốn đồng bào làm "kháng chiến giành độc lập chống ngoại xâmỴỴ, đến khi đắc thắng chúng mới tự lột mặt nạ ái quốc, lộ chân tướng cộng sản bằng cách đổi tên nước thành "Nước Cộng Hòa Xã Hội Chu? Nghĩa Việt NamỴỴ, và bỏ cái danh hiệu giả vờ Đảng ao Động để chính thức và công khai lấy lại tên cũ là "Đảng Cộng Sản Việt NamỴỴ.

Nói rộng hơn nữa thì nói dối và gian ngoan lường gạt là một quốc sách của cộng sản quốc tế nói chung, của Việt cộng nói riêng : chúng đã tự phản bội mọi hứa hẹn và chữ ký của chúng trong những bản hiệp ước quốc tế như Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và Hiệp định Paris ngày 27-1-1973. Trong ngôn ngữ luật học, gian dối có tên la-tinh là fraus, tên Pháp là fraude với câu châm ngôn Fraus omnia corrumpit ( La fraude corrompt tout, gian dối làm hư hết). Bởi vậy cho nên mọi chính phủ do Hồ Chí Minh và đảng Việt cộng lập nên từ năm 1945 đến nay đều là vô giá trị

đối với dân chúng Việt Nam là kẻ đã bị lường gạt.

Chúng không hề có chính thống (caractère illégitime), đáng bị sa thảị

Về mặt thực hành lý tưởng cộng sản, Hồ Chí Minh nói là làm cải cách ruộng dất mà thực sự là đãu tranh giai cấp, tàn sát mọi trí phú địa hào, chưa kể vụ diệt chủng (génocide) ở Hue^' năm Mậu Thân 1968. Rồi từ ngày chiếm xong toàn quốc, chúng cướp giật mọi tài sản tư hữu của nhân dân, kể luôn của giai cấp mà chúng gọi là "vô sảnỴỴ. Chúng mở những hợp tác xã và công ty quốc doanh mà thực sự là để cho bọn chúng được toàn quyền tham nhũng, dĩ công vi tự Lại vô học ngu dốt không tài trị

quốc, đưa đất nước xuống hàng những quốc gia nghèo nhất trên thế giới (xin coi các Tập VSKL/9 và kế tiếp).

Vậy chúng đã triệt để làm khổ toàn dân, đáng bị sa thảị

3. Từ ngày 30-4-1975 đến nay đã có nhiều người, ở trong nước và hải ngoại, tìm phương cách diệt trừ bọn cường quyền Việt cộng. Nào võ trang kháng chiến từ hải ngoại hay trong quốc nội,

nhưng rồi thế yếu bị dẹp tan, xử tử (vụ Trần Văn Bá năm 1984) hay tuẫn tiết trong rừng xanh (vụ em ruột tôi là Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh năm 1987). Nào kêu gọi Quốc tế can thiệp, trong hay ngoài khuôn khổ Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, nhưng đều bị các cường quốc làm ngơ, nhiều lắm là tỏ lời thương vay tiếc mướn (vụ nhóm Luật gia Vũ Quốc Thúc năm 1988, coi VSKL/14 tr. 487).

Nào năn nỉ và đề nghị hòa giải hòa hợp với Việt cộng, nhưng chúng không thèm để ý (vụ nhóm Thông Luận).

Lại còn một số "kiều bào"vô tâm, đã quên hết nỗi nhục nhằn lưu vong hồi 1975, nay giàu sang phú quý thì lại "áo gấm về làng"nói để thăm gia đình, ngờ đâu rằng chỉ đã đem tặng cho Việt cộng một số tiền viện trợ khổng lồ, không đối trọng,

chừng 2 tỉ đô-la một năm. Vô tâm trước sự xót xa công phẫn của những ngưới ái quốc (xin coi bài Tình cảm và lương tri trong phong trào áo gấm về làng (phê bình một khẳng định của Bùi Tín), một khảo luận của bác sĩ Trần Văn Tích, đăng trong tập V SKL/16 tr. 114 và tái đăng trong bán nguyẽt san Văn Nghệ Tiền Phong số 617 ngày 1/16-10-2001).

Nhưng may thay, lòng ái quốc của đại đa số đồng bào, còn mắc kẹt trong quốc nội hay đang lưu vong nơi hải ngọại, vẫn còn sôi sục. Kể luôn trong những thế hệ thanh niên sinh sau đẻ muộn, cái tinh thần bất khuất ấy của Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa để

lại, vẫn còn nóng bỏng và tồn tại y nguyên trong trái tim con cháu Lạc Hồng.

Bằng chứng ở hải ngoại là những bài "tố cộng"hùng hồn đăng trên báo chí, những hội đoàn chống cộng thành lập mọi nơi,

những cuộc biểu tình rầm rộ ngoài công lộ Tây phương, những tuyệt thực, những tẩy chay la ó trước các biểu diễn trơ trẽn của cộng nô (vụ Trần Trường), chiếc xe ủi đất đâm nhào vào tường rào tư dinh của sứ quán VC ở Paris, việc đốt cháy cờ đỏ sao vàng của VC, việc treo cao cờ vàng ba sọc đỏ của V NCH phất phới bay trên ngọn tháp Eiffel ở Pháp hay trên tháp tuợng Bà Tư Do ở Mỹ (các vụ Trần Hồng), hay chiếc máy bay liệng truyền đơn trên bầu trời Sài Gòn ngày tổng thống Mỹ Clinton sang thăm viếng Việt Nam (vụ Lý Tống) v. v. . .

Những hành động cực kỳ đẹp mắt ấy đều rất có ích, có tính cách rõ rệt "công tâm"như của Nguyễn Trãi thời xưa, song không thể vì thế mà diệt trừ được bọn cường quyền Việt Cộng trong quốc nộị Cũng như kế hoạch công tâm của Nguyễn Trãi, đâu có giúp được Lê Lợi bình Minh, nếu không có chiến lược quân sự hai hồi của tướng Nguyễn Chích (xin coi tậpVSKL/3 trang 502-536) !

Bằng chứng ở quốc nội là những đòi hỏi tuy lễ phép song đanh thép của những đồng bào ái quốc như bác sĩ Nguyễn Đan Quế,

hay của những kẻ có hàng chục năm "tuổi đảng"nhưng nay tỉnh ngộ,

như nữ si Dương Thu Hương hay cựu tướng VC Trần Độ.

Hồi 1989-1991 bỗng có những cuộc cách mạng bao động của toàn dân ở Đông Âu rồi ngay tại Nga-Xô khiến Đệ Tam Quốc Tế tại Âu Châu bị sụp đổ tan tành, thì Đồng bào lưu vong nơi hải ngoại đều hồi hộp mong chờ một cuộc "cách mạng chống đảng"của Đồng bào quốc nộị Nhiều cuộc biểu tình tuần hành và phá phách đã xuất hiện tại Thái Bình, Xuân Lộc hay Cao Nguyên, nhưng vì quá ít oi lẻ tẻ nên đều bị công an và bộ đội Viêt Cộng dẹp tan.

Khoảng từ năm 1986, nền kinh tế quá suy sụp khiến Việt Cộng phải lựa chọn một chính sách "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩaỴỴ. Có người mong rằng tình thế ấy sẽ gây nên một "diễn biến hòa bìnhỴỴ, khiến Việt Cộng phải đương nhiên thoát xác và trao trả mọi Nhân quyền cho Đồng bàọ

Nhưng bọn chúng đang cầm quyền, đang tham nhũng, đang biển thủ

công quỹ, vậy có bao giờ chúng chịu buông bỏ mồi ngon ! Trái lại, chúng bành trướng thêm lãnh vực của các công ty quốc doanh,

đặt ra những luật lệ nhiêu khê để cho phép mở những doanh nghiệp tư nhân. Chính sách mới ấy chỉ làm giàu thêm cho những cán bộ VC cao cấp làm chủ tịch những cơ sở quốc doanh, hay là cho các giám đốc những công sở có thẩm quyền cho phép và . . .

tham nhũng.

Ngày 11-5-1999 ở Việt Nam, bác sĩ Nguyễn Đan Quế (đã phải vào tù ra khám mấy lần trong mấy chục năm trời) lại đưa ra một bản tuyên cáo, chỉ lễ phép xin chính quyền Viêt Cộng "tách Đảng ra khỏi chính Quyền, quân đội, công an"; nghĩa là vẫn để cho cái chính phủ và quốc hội cộng sản hiện hữu được tại vị với quyền tổ chức tổng tuyển cử : nhưng tin làm sao được ? ! Bác sĩ Quế lễ phép đe dọa rằng : "Không thế, Bộ Chính Trị hoàn toàn chịu trách nhiệm đã đẩy quần chúng đến chỗ phải đứng dậy giành quyền quyết định tương laị"Nhưng ba năm qua, Bộ Chính Trị làm ngơ, mà cách mạng bạo động cũng chưa thấỵ

Rồi lại có những "thỉnh nguyện"của những vị chân tu như hòa thương Thích Huyền Quang (83 tuổi), hòa thượng Thích Quảng Độ

(73 tuổi) bên Phật Giáo, cụ hội trưởng Lê Quang Liêm (81 tuổi) bên Hòa Hảo, linh mục Nguyễn Văn Lý (55 tuổi) bên Công giáo : họ

chỉ thỉnh cầu nhà cầm quyền Việt Cộng, vẫn ngồi nguyên tại vị, ra ơn tôn trọng quyền Tự do Tôn giáo và mọi Nhân quyền,

nhất là quyền bầu cử tự do, cho toàn dân. Nhưng tất cả các tu sĩ ấy đều bị quản chế ; rồi linh mục Nguyễn Văn Lý lãnh án tù 15 năm, trong đó có 13 năm vì "phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc"(xin đọc là "phá hoại đoàn kết với ĐảngỴỴ) và 2 năm vì "chống lại quyết định quản chế"! (án xử kín ngày 19-10-2001 của cái gọi là Tòa Án Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên - Hue^', coi nguyệt san Việt Nam Dân Chu? tháng 11-2001 tr. 3-4).

4. Về tham nhũng, tôi đã phân tách trong bài "Từ thiên đường cộng sản đến thiên đường tham nhũng"(xin coi VSKL/16 tr. 62-70 tức 19 trang) cái diễn biến lịch sử hai hồi trong hành vi của Đảng Cộng Sản Việt Nam, từ trên xuống dưới, có thể đúc kết như sau :

a / Hồi thứ nhất, khoảng từ 1930 đến 1975, kể từ Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn, bọn chúng đang phải dồn hêt nỗ lực và tài sản quốc gia ở những vùng chiếm đóng vào công cuộc chiến tranh mà mục tiêu công khai của chúng là "chống ngoại xâm giành độc lậpỴỴ, mục tiêu thầm lén là "giành độc quyền thống trị tại Việt Nam để thực thi chủ nghĩa cộng sản": đó là cuộc chiến tranh "chống Pháp-Bảo Đại"hồi 1941-1954, rồi "chống Mỹ-Diệm, chống Mỹ-Thiệu" hồi 1956-1975. Vả lại những vùng do chúng mới chiếm dóng hồi ấy, gọi là bưng, đều nghèo nàn thiếu thốn. Cho nên chúng chưa kịp nghĩ đến chuyện làm giàu cá nhân, chỉ dương cao khẩu hiệu "chống ngoại xâm giành độc lậpỴỴ, còn trong bụng thì bị ám ảnh bởi cái lý thuyết cộng sản là sẽ tạo lập "thiên đường cộng sản"tai Việt Nam rồi tại Đông Dương. cái lý thuyết cộng sản là sẽ tạo lập "thiên đường cộng sản"tại Việt Nam rồi tại Đông Dương.

b / Hồi thứ hai, từ 1975 đến ngày nay (2001) là 26 nâm trời, sau khi bọn Việt Cộng dã hoàn thành cuộc chiến tranh xâm lăng của chúng, thì tâm lý chúng liền đổi thay khác hẳn. Cái động cơ "chống ngoại xâm giành độc lập"đã tiêu tan vì mãn nguyện ;

cảnh giàu sang phú quý thực sự của dân miền Nam Việt Nam khiến cho chúng tối mắt, thèm muốn say sưa, đúng với lòng "tham sân si"của mọi con người ; cái oai quyền chiến thắng khiến cho chúng được toàn quyền vơ vét mọi tài sản riêng tư của dân chúng miền Nam, dưới danh hiệu thực thi chũ nghĩa cộng sản, nhưng thực sự là để chúng có toàn quyền chiếm hữu những tài sản ấy, dĩ công vi tự Nói cách khác, lòng tham không đáy của con người đà nổi dậy, đưa dến cảnh tham nhũng làm giàu của mọi tên Việt Cộng, từ Bộ Chính Trị đến công an phường xã.

Vậy từ năm 1976 tham nhũng đã thành quốc sách, biến Việt Nam thành một thiên đường tham nhũng, thay thế cho thiên đường cộng sản mà ngày nay không một tên Việt Công nào còn nghĩ đến.

Theo nghiên cứu hồi cuối năm 2000 của một số chuyên viên ngân hàng, thì tài sản của 18 tên Việt Cộng chóp bu đã vơ vét được tới nay là (VC Politburós Networth, Internet Thursday December 21, 2000) :

1. Lê Khả Phiêu, hồi ấy làm Tổng Bí Thư đảng CSVN....................... 1 tỉ 170 triệu mỹ kim 2. Trần Đức Lương, Chu? tịch Nhà Nước...................... 1 tỉ

130 triệu- 3. Phan Va(n Khải, Thủ Tướng (và con trai)...................... 1 tỉ

200 triệu- 4. Nông Đức Mạnh, Chu? Tịch Quốc Hội (Tổng Bí Thư đàu năm 2001).............. 135 triệu- 5. Nguyễn Văn An, Chu? T?h Ban Chấp Hành Trung Ương ..............

143 triệu- 6.Nguyễn Tấn Dũng, Đệ Nhất Phó Thủ Tướng ......................

1 tỉ 480 triệu- 7. Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ Tướng ...................... 1 tỉ 150 triệu- 8. Nguyễn Đức Bình, Giám Đốc Viện Quốc Gia Hồ Chí Minh ...................... 140 triệu- 9. Phạm Thế Duyệt, Chu? tịch Mặt Trận Tổ Quốc ...................... 1 tỉ 173 triệu- 10. Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Chu? tịch Ủy ban Trung ương Kiểm soát Dảng ...................... 117 triệu- 11. Trung Tướng Phạm Va(n Trà, Bộ Trưởng Quốc Phòng ...................... 1 tỉ 360 triệu- trong đó có 10 tấn vàng chiến lợi phẩm đem từ Cao Miên về (1979-1989) 12. Trung Tướng Lê Minh Hương, Bộ Trưởng Nội Vụ . 156 triệu- 13. Lê Xuân Tùng, Chu? tịch Đảng ở Hà Nội 116 triệu- 14. Trương Tấn Sang, Chu? tịch Ủy ban Kinh Tế ...................... 1 tỉ 124 triệu- 15. Phạm Thanh Ngân, Chính Ủy Quân đội ................ 12 triệu- 16. Nguyễn Minh Triết, Chu? tịch Đảng Hồ Chí Minh ......... 197 triệu- 17. Phan Điền, Chu? tịch Đảng ở Đà Nẵng ............. 156 triệu- 18. Nguyễn Phú Trọng, Chu? tịch Đảng ở Hà Nội .................

...................... 140 triệu- Cứ như vậy từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, giữa chính quyền và gian thương, từ đại thương mại quốc tế và quốc doanh đến tiểu thưong mại buôn thúng bán mẹt,

nơi đâu cũng có công an và hội đồng nhân dân xã sẵn sàng thu "thuếỴỴ, cướp nhà cướp dất của đồng bào, chỉ khuếnh trương kinh tế cho lấy lệ.

Còn đồng bào toàn quốc thì sống trong cơ cực, ngoại trừ các đảng viên cộng sản và bọn gian thương đồng lõa thì giàu to,

biến thành những "tư bản đỏỴỴ. Theo thống kê quốc tế, tiền thu nhập trung bình mỗi ngưiời Việt Nam trong nước hiện nay (năm 2000-2001) là 341 mỹ kim một năm, tức 28,41 mỹ kim một tháng, ương đương với chừng 200 quan Pháp (FF), quá thấp so với : Singapour (27.286 MK, nhiều hơn gấp 80 lần), Đài Loan (11.977 MK), Hàn Quốc (8.651 MK), Thái Lan (2.187 MK), Phi Luật Tân ( 1.082 MK), Trung Cộng 736 MK), Nam Dương (633 MK) v.v. . . Trong số 171 quốc gia, VN được ếp hạng thứ 145, nói cách khác, V N là một trong số 26 nước nghèo nhất thế giới (lưỡng nguyệt san Tiếng nói ngưồi Việt quốc gia số 19 thàng 8, 9 và 10-2001 tr. 16).

Riêng tôi có "phỏng vấn"3 ông Việt kiều áo gấm về làng,

được nghe kể rằng : 1/ Ông thứ nhất, chủ một tiệm cơm lớn ở quận 16 Paris rất sang trọng, đem về VN một số tiền lớn để làm quà phân phát cho bà con và định ở chơi 3 tháng, nơi đâu cũng được bà con tiếp đón tưng bừng làm cỗ thết, nhưng trời ơi ! ruồi ơi là ruồi, được có 3 tuần thì ông bạn bị

đau quặn bụng, phải bỏ ngay VN về Pháp. 2 / Ông thứ hai, một Pháp lai có vợ Viêt, hai vợ chồng về VN thăm bà con, được mời ngủ

trong một biệt thự mới xây cất khang trang ở Sài Gòn nhưng trời ơi ! mùi hôi thối ở phòng vệ sinh từ dưới đất bốc lên làm nghẹt thở ; 3 / Ông thứ 3, một cựu tư chức trong một công ty Pháp nay đổi nghề làm taxi tư, cũng về VN chơi, có về cả đồng quê, thấy đâu cũng bùn lầy nước đọng, cống rãnh bẩn thỉu, không đèn điện không nước máy, ruồi nhặng như ong,

cơ khổ lắm bác ơi ! Chúng nó đâu có lo nghĩ đến sửa sang "infrastructure"(hạ tầng cơ sở) , dân quê nghèo nàn lắm bác ơi !

Thế mà "Đảng và Nhà nước"vẫn leo lẻo tuyên bố bài trừ tham nhũng.

Một số người, hoặc ngây thơ hoặc trào phúng, ngày 2-9-2001 tức quốc khánh VC, làm đơn xin thành lập "Hội Nhân Dân Việt Nam ?ng Hộ Đảng và Nhà Nước Chống Tham Nhũng (Gọi tắt là Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng)ỴỴ, viện lẽ rằng (nguyên văn hép lại trong nguyệt san Việt Nam Dân Chu? số 10, tháng 10-2001) :

"Hiện nay, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước và cản trở sự phát triển của Đất nước. Nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã hải phát biểu : "Nếu không chống tham nhũng thì Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạọ"Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh vừa nhận chức cũng hải tuyên bố : "Phải chống tham nhũng quyết liệt hơn !"Và Chu? Tịch Quốc Hội - Nguyễn Văn An vừa nhận chức cũng phải nói : "Xin ân chủ đâu có được, phải đãu tranh mới có dân chủ. Xin công bằng cũng không được, phải đãu tranh mới có công bằng. Chống tham nhũng dĩ nhiên cũng phải đấu tranh rất quyết liệt."

"Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước, chúng tôi xin phép được thành lập "Hội Nhân Dân Việt Nam Ủng Hộ Đảng à Nhà Nước Chống Tham Nhũng (Gọi tắt là "Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham NhũngỴỴ) v.v. . .

"Thay mặt Ban Trù Bị Thành Lập,

Ký tên : Phạm Quế Dương - 37 Lý Nam Đế - Hà Nội Trần Văn Khuê - 296 Nguyễn Trãi - Quận 5 - TP Hồ Chí Minh"

Thế là ngay hôm 5-9-2001 tức ba hôm sau, hơn hai chục người trong Ban Trù Bị Thành Lập bị công an ở Hà Nội bắt lên đồn "làm việc"tức tra hỏi, như : đại tá Phạm Quế Dương, cụ già Hoàng Minh Chính (80 tuổi còm nhom, 1 lần tù Tây, 3 lần tù ta), Lê Chí Quang (cử nhân trẻ tuổi) và bà mẹ, Trần Đai Sơn, Trần Bá,

tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang v.v. . . Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân bị đưa lên máy bay, trục xuất về Sài Gòn.

Theo bài tường thuật của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (đăng trong báo kể trên), tất cả bị cật vấn về tội "có hoạt động liên can đến an ninh quốc gia"(xin đọc là an ninh Đảng), bị hỏi cung suốt 1 ngày hay 2, 3 ngày rồi tha về. Sau đây là lời của tên công an Tâm nói với Lê Chí Quang :

- Tao tha cho mày vì mày ốm yếu chứ không, tao đã bắt mày rồị Nhưng tao cấm mày ra khỏi nhà.

- Có văn bản pháp luật nào cấm tôi ra khỏi nhà không ?

- Tao không cần văn bản nào cả.

- Văy là văn bản miệng à ?

- Đúng. Miệng tao là pháp luật.

- Vậy thì tôi vẫn cứ ra khỏi nhà nếu tôi muốn.

- Tao sẽ bắt mày ngay nếu mày ra khỏi nhà, mày đừng thách ta !

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang phê bình : "Hiện đang có hàng loạt người dựa vào thanh thế của Đảng để tham nhũng. Quyền thế o,

tham nhũng to (diển hình là cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười), quyền thế nhỏ, tham nhũng nhỏ. Đảng kêu gọi tha thiết nhưng không dám thực tâm chống tham nhũng vì sợ chống tham nhũng đến tận cùng sẽ trở thành chống Đảng. Các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình . . . ngây thơ muốn xung phong giúp Đảng chống tham nhũng thật nên tất nhiên phải bị tiêu diệt ngay trước khi sắn tay áọ"

Và kết luận bằng một câu sáo ngữ: "Thế đấy, hung tàn thế nào rồi cũng bị đẩy luị Đại nghĩa tất sẽ ngày càng ngời sáng vì chúng ta thuộc về nhân dân, thuộc về đất nước, thuộc về công lý. Hà Nội, 12 tháng 9 năm 2001. Nguyễn Thanh Giang."(áp dụng lời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại cáo năm 1427 : Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lãy chí nhân mà thay cường bạo).

5. Nhưng trong lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay, có bao giờ thấy đại nghĩa đương nhiên thắng hung tàn ? Nếu không có sử dụng võ khí như Ngô Quyền phá Nam Hán, như Lý Thường Kiệt phạt Tống,

như Trần Hưng Đạo chống Nguyên, như Lê Lợi bình Minh, như Nguyễn Hue^. phá Thanh, thì có bao giờ ta thắng và giữ gìn độc lập ? Cũng trong lý luận ấy, nếu không có quân đội Nhật Bản làm đảo chính quân sự ngày 9-3-1945 thì có bao giờ thực dân Pháp bị lật đổ ở Đông Pháp (xin coi VSKL/8) ? Hay ở bên Đông Âu,

nếu không có toàn dân nổi loạn, nhất là ở các thủ đô, và đến phút chót được quân đội hùa theo, thì các chế độ CS tại đó đâu có bị đổ vỡ tan tành ? (xin coi VSKL/3 và 4, VSKL/14 tr. 3775).

6. Nói tóm tắt, vấn đề của Đất nước và Dân tộc Việt Nam hiện nay nằm trong ba mệnh đề là :

a / Toàn dân đều khát khao kỳ vọng một nền Tự do Dân chủ thực sự, thể hiện bằng phương pháp thông thường là những cuộc bầu cử thành thật, tự do và có định kỳ, sẽ có hy vọng đem lại Thịnh vượng Hạnh phúc cho đồng bào quốc nội và con cháu sau nàỵ

b / Chế độ Xã hội Chu? nghĩa, độc tài độc đảng, tàn ác và tham nhũng mà đảng cộng sản Việt Nam đã gian dối áp đặt trên toàn quốc từ gần 50 chục năm trời nay đã đi ngược lại cái kỳ vọng và lý tưởng ấy, vậy nhất định cần phải diệt trừ để

cứu dân dựng nước.

c / Nhưng làm sao cứu quốc và hưng quốc ?

C - Làm sao Cứu Quốc và Hưng Quốc ?

1. Trên đây vừa tóm lược những cố gắng vô hiệu quả của đồng bào trong và ngoài nước trong 26 năm qua để giải trừ chế độ Việt cộng (1975-2001).

Đọc những bài "tố cộng"rất công phu tha thiết như của bác sĩ Nguyễn Đan Quế ngày 11-5-1999, của hòa thượng Thích Quảng Dộ

ngày 21-2-2001, của 144 linh mục Việt Nam hải ngoại ngày 15-8-2001, của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ngày 12-9-2001, v.v. . , chỉ toàn thấy những van xin Việt Cộng, những mong mỏi hành động cứu quốc ủa đồng bào (nhưng không biết bằng cách nào), những cầu cứu hão huyền vào can thiệp của quốc tế. Một số người tỏ tinh thần ỷ lại vào áp lực kinh tế của Hoa Kỳ hay vào "Ý Trời"(bài của luật sư Hoàng Duy Hùng trong bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong số 610 ngày 16/30-6-2001). Đúng là há miệng chờ sung. Thật chán ngán.

Văy ngày nay, ngoài chuyện toàn dân nổi loạn làm cách mạng kiểu Đông Âu, thì người dân Viêt Nam không còn có cách chi để diệt trừ được chế độ Việt Cộng hay sao ?

2. Riêng tôi cũng đã nhiều năm đắn đo suy nghĩ, đọc và viết lại trong 17 năm (từ 1984 đến 2001) lịch sử Việt Nam từ thái cổ

đến hiện tại để "ôn cố nhi tri tânỴỴvà tìm phương cứu quốc một cách cụ thể.

cụ thể. không tài náo đội đá vá trời làm được công chuyện ấỵ

Nhưng trong lịch sử nhân loại, bao giờ chuyện cứu quốc cũng phải do một cá nhân khởi xướng, đưa ra một giải pháp, võ trang hay không, nhưng coi như chính nghĩa, để kêu gọi đồng bàọ

Đặc biệt nhất là trường hợp thiếu tướng Pháp Charles de Gaulle, 50 tuổi năm 1940, đã dám ngày 18-6-1940 ở Luân Đôn một mình đứng ra kêu gọi đồng bào Pháp đừng vì thua một trận mà nản chí, hãy bền tâm tiếp tục cuộc chiến tranh chống quân đội Đức Quốc Xã của Hitler vừa xâm lăng nước Pháp. Nên ông dược chính phủ Anh của thủ tướng Churchill ủng hộ mà từ đó mới dần dần giải phóng được quốc gia Pháp năm 1944.

Trường hợp thư hai là ông Gandhi, một thường dân Ấn Độ, tay không, không một người ủng hộ, mà năm 1907 (khi ấy ông mới 38 tuổi và đang làm luật sư) dám "đơn thương độc mã"đưa ra ột chiến dịch bất bạo động và bất hợp tác (une campagne de non-violence er de non-participation) với chế độ thực dân Anh. Ông phải vào tù ra khám nhiêu lần, làm tuyệt thực, nhưng bền tâm tranh đấu bất bạo động, nên được dân chúng Ấn tôn làm Mahatma (La Grande âme, Đại Linh Hồn) ; rồi bất ngờ Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra, thời cơ run rủi khiến nước Anh phải trao trả độc lập cho Ấn Độ và cho Ông năm 1947.

3. Bỗng một ý kiến điên rồ nảy ra trong chí óc tôi : tại sao ta không mở tại quốc nội Việt Nam một chiến dịch bất bạo động và bất hợp tác với cường quyền Việt Cộng, như ông Mahatma Gandhi ?

Càng suy nghĩ, tôi càng thấy ý kiến đó rất hay nhưng cũng rất khó thi hành.

Khó khăn thứ nhất là làm sao tìm được môt vĩ nhân ở quốc nội có đủ tài ba gan dạ như ông Gandhi để vượt mặt Việt Cộng, bất châp hiểm nguy mà kêu gọi 80 triêu đồng bào làm Toàn Quốc Bất Hợp Tác ? Khó khăn thứ nhì là làm sao ta liên lạc được với người vĩ nhân chưa quen biết ấy, khi mọi phương tiện giao thông giữa hải ngoại và quốc nội đều bị Việt Cộng ngăn cản ? Khó khăn thứ ba là làm sao vị vĩ nhân ấy kêu gọi được 78 triệu đồng bào, khi mọi phương tiên truyền thông trong nước đều bị hạn chế? Khó khăn thứ bốn là làm sao cho 80 triệu đồng bào ấy dám hết sợ cộng sản, liều chết nghe theo lời kêu gọi của đấng vĩ nhân của mình để làm Bất Hợp Tác,

dù là bất bạo động ? v.v. . .

Bởi vậy cho nên tôi đành tạm xếp bỏ cái ý kiến dớ dẩn ấỵ

Chỉ biết thở than : "Công việc cứu quốc còn nhiều gian nan !"

Đ - Mong mỏi và liên lạc với các Ủy ban Liên Tôn 1. Bỗng đến tháng 6 năm 2001 có một bài tham luận đăng trong tờ lưỡng nguyệt san Tiếng nói người Việt quốc gia ở Pháp, số 17 tháng 4 và 5-2001 tr. 13, ký tên Hồ Tấn Vinh (Úc Châu), cho hay rằng tại Việt Nam vừa mới có một Ủy ban Liên Tôn được ra đời, do mấy vị chân tu Phật gíáo, Công giáo vă Hòa Hảo sáng lập, để

công khai chống đối cường quyềnViệt Cộng về việc trà đạp Tự do Tôn giáọ Tác giả bàn thêm :

". . . Ủy ban liên tôn đánh dấu một chuyển hướng quyết liệt từ một thái độ chịu đựng đến thái độ đương dầụ . .

Giáo hội đã có sẵn trong tay cái xi măng trời phú đó là cái bất động và bất hợp tác mà hình thức biểu dương của nó là bãi thị, bãi khóa và đình công. . . Mọi người có uy tín đều có thể hùng hồn kêu gọi đình công, bãi thi, bãi khóa, nhưng không có ai nghe theọ Chỉ có Ủy ban liên tôn mới hội tụ đủ

điều kiện làm lời hiệu triệu, kết hợp cả triệu người thành một khốị

" Bây giờ đến cái thắc mắc chánh. Thí dụ như Ủy ban liên tôn hiệu triệu dân chúng đình công, bãi thị, bãi khóa, và mọi ngưòi nghe theo lời, ở nhà đóng cửa lại, nấu cháo hớp suốt một tuần lễ thì làm sao Việt cộng chịu thua ?

"Cái ẩn số này có vẻ kỳ bí nhưng thật ra đã có giải đáp trong lịch sử. Khi Mahatma Gandhi tổ chức biểu tình và tuyệt thực, ông không có súng AK hay quân du kích yểm trợ mà quân đội Anh trở

về nước và chính phủ Anh trả lại độc lập cho Ấn Độ."

Mặc dầu bài tham luận trên đây quá sơ lược nên không đi sát với lịch sử Ấn Độ, song cũng đưa ra được một ý kiến hay,

là hiện nay ở quốc nội Việt Nam vừa có một Ủy ban Liên Tôn thành hình để công khai chống đối cường quyền Việt cộng về việc trà đạp Tự do tôn giáo, thì Ủy ban ấy cũng rất có thể

kêu gọi đòng bào làm bất hợp tác, tức tổng bãi công, bãi thị

và bãi khóa để buộc Việt cộng phải rút lui !

Tôi suy nghĩ : Ta đang kiếm một vĩ nhân ở quốc nội dám đương đầu với Việt cộng lại có uy tín đối với đồng bào, thì đây ! Có Ủy ban Liên Tôn mới thành lập đó ! Các vị chân tu của Ủy ban đã phải vào tù ra khám nhiều năm và nhiều lần, vậy sẵn có tinh thần "tử vì đạoỴỴ. Lại không hề có ẩn ý tham danh tham lợi, chỉ vì Tự do Tôn giáo ở Việt Nam mà hy sinh. Thì nếu nay ta đề nghị với Ủy ban việc chỉ huy kêu gọi đồng bào quốc nội làm Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác để "đuổi Việt cộngỴỴ,

chắc Ủy ban sẽ vui lòng đồng ý ngay 100 phần 100 !

2. Tôi bèn đi tìm thêm tài liệu về Ủy ban Liên Tôn Quốc Nộị

Được biết rằng (theo tuần san Tiếng Dân ở bên Mỹ, số 227 ngày thứ sáu 4-5-2001 tr. 6) :

'i có độ dăm muời tháng nay, khoảng từ cuối năm 2000, cường quyền Việt cộng bỗng thẳng tay đàn áp mọi tôn giáo ở trong nước. Họ "bổ nhiệm"nào sư quốc doanh, nào linh mục quốc doanh,

nào mục sư quốc doanh, nào bà sơ quốc doanh, nào Cao Đài quốc doanh, nào Hòa Hảo quốc doanh, v.v. . . để cướp chùa, cướp nhà thờ thánh thất, đồng thời họ giam cầm hanh hạ các vị chân tu dám phản đốị

Sự đàn áp và vi phạm trắng trợn quyền tư do tôn giáo đã gây công phẫn uất ức cho một số thiện nam tín nữ mà không biết kêu cứu bằng cách nào, chỉ còn nước tự thiêu ! Đó là trường hợp của bà Nguyễn Thị Thu bên Hòa Hảo tự thiêu ở Hău giang gày 19-3-2001, ngày vía Đức Huỳnh Giáo chủ. (Sau này sẽ còn vụ huynh trưởng Hồ Tấn Anh bên Phật giáo tự thiêu ở Đà Nẵng ngày rằm tháng 7 Tân Tỵ tức 2-9-2001, ngày quốc khánh của VC ) Một chế độ độc tài tàn ác đến mức ấy, với một chính sách khủng bố "quốc gia hành dân chúng" chỉ đáng một trừng phạt là lật đổ không thương.

Trong thực tế, một số chức sắc chân tu bèn lập ra Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết Quốc Nội để tranh dấu, đúng là ngày 6 tháng 2 năm 2001, giữa cụ Lê Quang Liêm, hội trưởng giáo phái Hòa Hảo, làm chủ tịch, Hòa Thương Thích Thiện Hạnh, Linh Mục Chân Tín và Linh Mục Nguyễn Văn Lý, vị này làm Tổng Thư Ký. Tiếp theo đó là việc thành lập Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết Hải Ngoại ở

bên Mỹ, với Hòa Thượng Thích Giác Lượng, chủ tịch và Linh Mục Phan Phát Hườn, tổng thư ký.

Hai hội đồng ấy có mục tiêu rộng rãi là : 'tranh đấu vì phúc lợi cho dân tộc Việt Nam, cho sự tự do tôn giáo tại Việt Nam,

cho quyền làm người của dân tộc Việt Nam" (lời cụ Lê Quang Liêm) ; "đòi tự do tôn giáo, tự do dân chủ cho toàn nước Việt Nam" (lời Linh Mục Lý). Đó là một bước tiến bộ lớn.

Song đến tận bây giờ (cuối tháng 6-2001) cả hai hội đồng liên tôn đều chưa dám động chạm đến sự hiện sinh của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ chỉ mới có "tha thiết kêu gọi đồng bào trong nước cũng như ngoài nước hãy làm đủ mọi cách trên cương vị

của mình (không biết cách gì !) để gây sức ép cho người Cộng Sản Việt Nam hôm nay phải chấp nhận để các Văn Phòng Dân Chu?

phải được sớm thành lập trong nước, để tiến đến một nền dân chủ thực sự qua những cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, có quốc tế giám sát (lời linh mục Lý).

Hai Hội Đồng Liên Tôn ấy vừa mới ra chào đời được ba háng thì, ở quốc nội, Linh mục Nguyễn Văn Lý bi bắt giam trở lại ngày 17-5-2001 và Hòa Thương Thích Quảng Độ lai bị "quản chế"tại chùa ngày 7-6-2001.

Dù sao thì Hội Đồng Liên Tôn Hải Ngoại, nằm ngoài vòng cương tỏa của Việt Cộng, vẫn còn hoạt động ; ngay trong quốc nội,

các vị tu hành trong mọi chùa chiền thánh thất "chưa quốc doanh"còn đầy rẫy, vẫn còn thế đấu tranh trong bóng tốị

Văy đã đến lúc ta nên đề nghị với các nhà chân tu của năm tôn giáo đi thêm bước nữa, quyết liệt hơn nữa, là hưởng ứng và chỉ huy phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác, là cuộc chiến sau cùng nhưng chắc thắng để "đưổi Việt CộngỴỴ, tựu thành ước mơ cứu quốc và hưng quốc của toàn thể đồng bào !

3. Thế là tôi, mặc dầu già lão 90 tuổi, tim đau chân chậm,

nhưng vì lòng trắc ẩn đối với Tổ quốc non sông, nên cứ bắt đầu cặm cụi làm song song ba công việc :

a / Nghiên cứu, viết một loạt bài tham luận về việc xây dựng tức tạo thành kế hoạch Toàn Quốc Bất Hợp Tác (từ tháng 6 đến tháng 10-2001) ; sau này những bài ấy được in vào Tập Việt Sử Khảo Luận, Phụ biên 2 tức VSKL/17 dưới nhan đề "Làm sao Cứu Quốc và Hưng Quốc ?ỴỴ, đã nạp bản vào Thư viện uốc gia Pháp.

b / Tuyên truyền, tức phổ biến tới báo chí và một số nghĩa hữu, những ý kiến ấy một cách công khai, càng rộng càng hay,

không sợ VC nghe lỏm. Để trưng cầu ý kiến.

c / Hành động sơ khai, tức tìm đường liên lạc với ít nhất Hội Đồng Liên Tôn Hải Ngoại, để thành lập Ban Sách Động ất Hợp Tác.

Về phần nghiên cứu, các bài tham luận của tôi đều được tôi coi như có sự đồng tình đương nhiên của các Ủy Ban Liên Tôn,

Quốc nội và Hải ngoại, đứng làm đầu não chỉ huy Phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác. Cho nên tôi mạnh dạn đề nghị một Phong trào dài lâu chừng một tháng để, lần đầu và chót, có thể

thật sự "đuổi"VC ra khỏi chính quyền và chấm dứt chế độ Xã hội Chu? nghĩa tại Việt Nam.

Về phần hành động, thì vừa khi đó, các vị lãnh đạo Ủy Ban Liên Tôn Hải Ngoại bỗng nhiên đi "du thuyết"sang Paris, nên tôi đã dễ dàng được gặp chư vị là : Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, giám đốc hành động của Ủy ban Quốc tế cho Tự do Tôn giáo tại Việt Nam (hội thảo ngày 15-7-2001) ; Hòa thượng Thích Giác Lượng và Linh mục Phan Phát Hườn, chủ tịch và tổng thư ký Hội đồng Liên tôn Đoàn kết Hải ngoai (hội thảo 7-9-2001). Ngoài ra, có một hội thảo của Ủy ban Liên lạc các Tôn giáo tại Âu châu, tổ chức ngày 21-10-2001 duới sự chủ tọa của : Hòa Thượng Thích Minh Tâm (chùa Khánh Anh, Pháp), Đức Ông Philippe Trần Văn Hoài (Rome, Í Đại Lợi, vắng mặt phút chót), Hội trưởng Hồ Minh Châu (Hòa Hảo,

Pháp), Hiền tài Lê Trung Cang (Cao Đài, Pháp), mục sư Huỳnh Văn Công (Tin Lành, Hòa Lan).

Tôi đã hân hạnh được gặp mặt và chuyện trò cùng tất cả

những vị chức sắc ấy, lại trình tặng mỗi vị một cuốn ỴỴLàm sao Cứu Quốc và Hưng Quốc ?"gồm những bài tham luận ủa tôi vừa mới viết và mới in xong. Các vị đều hoan hỷ và hứa sẽ thảo luận sau (coi hình chụp hôm 21-10-2001).

Ảnh chụp tại hội trường Ravel (Paris quận 12) ngày chủ nhật 21-10-2001 trong cuộc hội thảo của các chức sắc 5 tôn giáo tại Âu Châụ Từ trái sang phải : Hội Trưởng Hồ Minh Châu (Hòa Hảo), ục sư Huỳnh Văn Công (Tin Lành). Hiền Tài Lê Trung Cang (Cao Đài),

Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Hòa Thượng Thích Minh Tâm (Phật giáo).

Nguồn gốc : Nguyệt san Khánh Anh tháng 10-2001.

Song trong buổi hội nghị ngày 21-10-2001 về năm tôn giáo tại Âu Châu, Đức Ông Trần Văn Hoài, vắng mặt phút chót, có thư xin lỗi nhưng vẫn tỏ lòng công phẫn về sự bao tàn của Việt Cộng đối với các tôn giáo ; có câu như sau : "hiện nay các nhà tu như chúng tôi đều bị liệt kháng."

Tiếp theo lời tuyên bố bằng thư văn ấy, Hoà thượng Thích Minh Tâm ứng khẩu nói : "Như Đức Ông Trần Văn Hoài vừa phân rần,

các nhà tu hành chúng tôi nay đều bị liệt kháng tức bệnh Sida (Hội trường cười vang) ; vậy chỉ còn cách chờ mong vào chư vị

cư sĩ làm công chuyện Cứu Quốc, bọn tu hành chúng tôi chỉ có thể ủng hộ mà thôị"

Sau được biết thêm rằng : trong nội bộ Công giáo Việt Nam, có sự mâu thuẫn giữa một số linh mục ái quốc và hăng hái như Linh mục Lý, Đức Ông Hoài, và Hội đồng Giám Mục Việt Nam dè dặt hơn (không hiểu rõ lý do bên trong : hành động từ tốn ? Hay là đã có giám mục quốc doanh ?) ; cho nên không một linh mục nào dám tự nhận là "đại diện"cho Công Giáo để cùng với các giáo phái khác thành lập một Ủy ban Liên Tôn. Thế là Ủy ban Liên Tôn ở Âu Châu không thành hình !

Vừa khi ấy, có tin rằng tại quốc nội, Linh mục Nguyễn Văn Lý bị Việt Cộng lên án 15 năm tù (án xử kín ngày 19-10-2001).

Còn ba vị chức sắc của Ủy ban Liên Tôn Hải ngoại tại Mỹ cũng lặng im, chưa trả lời tôị Thấy nói cũng có vài vấn đề tế nhị trong nội bộ vài Tôn giáo !

E - Quyết định cá nhân sau cùng : thay đổi chiến lược Trước tình trạng tạm thời khiếm khuyết của các Ủy ban Liên Tôn,

quốc nội và hải ngoại, tôi phải làm gì ?

Cứu quốc như cứu hỏa, mà tôi thì quá già yếu, sống chẳng còn được bao lâu !

Song nếu không bắt đầu hành động, thì làm sao có ai biết mà tiếp nối công trình ? Một công trình đã được đưa ra công khai từ gần sáu tháng nay, lại - theo ý tôi - là giải pháp duy nhất còn lại để cứu quốc, nhất là bất bạo động, không nguy hiểm cho đồng bào quốc nội và để thực sự cứu quốc đến thành công !

Vậy tôi phải xét lại chiến lược và chiến thuật để đáp ứng tình thế mớị

Đã chưa nhờ được các Ủy ban Liên Tôn làm đầu tầu, và trong tình thế chính trị hỗn loạn, vô tổ chức, chia rẽ và tị hiềm hiện tại ở trong và ngoài nước, chưa có một tổ chức hay chính đảng nào có đầy đủ uy tín, thì có lẽ lão già này, không quản ngại tuổi cao sức yếu, không quản ngại mọi đàm tiếu thị phi hay vu khống ác ý, phải "đơn thương độc mã" đứng ra làm hiệu triệu một mình ! Có lẽ đó là số phận của tôi về cả hai mặt văn chương và chính trị !

Vậy chương trình và chiến lược đấu tranh Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác được sửa đổi và mường tượng sơ lược như sau :

1. Hạ tối hậu thư cho cường quyền Việt Cộng Thoạt đầu, cá nhân tôi chỉ là "một lão già công dân ViệtỴỴ,

hạ một tối hậu thư cho cường quyền Việt Cộng, ra lệnh chúng phải :

a / Lập tức, không kỳ hạn, trao trả tự do cho mọi người gọi là tù nhân lương tâm, tu sĩ hay cư sĩ ;

b / Lập tức, không kỳ hạn hay tối đa là đến ngày, tháng, năm (sẽ ấn định sau) là hạn chót, tự động rời bỏ mọi chức vụ

để trao trả chính quyền cho Dân Tộc Việt Nam. Quá kỳ hạn đó,

toàn dân trong quốc nội sẽ tỏ thái độ bằng cách Toàn Quốc Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác, tức tổng đình công, tổng bãi thị, tổng bãi khóa và nằm nhà trong một ngày 24 tiếng đồng hồ, để chứng tỏ lòng bất ưng và phỉ nhổ.

Trong lịch sử nước nhà, đã có hai lần Dân Tộc Việt Nam "bầu cử bằng chân"để chối bỏ chủ nghĩa cộng sản, là năm 1954 (cuộc di cư từ Bắc vào Nam) và năm 1975 (cuộc vượt biển lưu vong tỵ nạn). Thì ngày nay, Dân Tộc ta lại sẽ tỏ lòng chối bỏ

Cộng Sản với thể thức "bầu cử bằng nằm nhà một ngàyỴỴ.

Cần chi phải có lá phiếu !

Nếu Việt Cộng còn chút thật tình ái quốc, thì sẽ phải vui lòng chấp nhận và thi hành hai mệnh lệnh trên đây, không trù trừ ngoan cố, không giam cầm bắt bớ ai, không đổ máu cho cả hai bên.

Nghĩa là sẽ rút lui khỏi chính quyền để trở về đứng ngang hàng với mọi chính đảng khác, cùng nhau ra tranh cử hòa bình trong "những cuộc bấu cử thành thật, tự do và có định kỳỴỴ, cho quốc dân đồng bào thực sự làm "chủ"và toàn quyền lựa chọn.

Nói cách khác, chính VC sẽ tích cực tham gia vào công cuộc Hưng Quốc. Thì chăc rằng họ sẽ được hưởng sự khoan hồng, nếu không gọi là ưu ái, của toàn thể Đồng Bàovà. . . của Tiên Tổ

Lạc Hồng..

Riêng tôi xin đề nghị ngày Toàn Quốc Bất Hợp Tác vào ngày giỗ Quốc Tổ Húng Vương tức mồng 10 tháng 3 âm lịch. Hoặc một gày khác tùy ý Ban Sách Động lựa chọn.

2. Hô hào, tuyên truyền và huấn luyện 2 triệu đồng bào hải ngoại về kế hoạch Toàn Quốc Bất Hợp Tác trong bất bạo động để cứu 78 triệu đồng bào quốc nội Vẫn cá nhân tôi ngỏ lời kêu gọi toàn thể 2 triệu đồng bào đang lưu vong nới hải ngoại, phải sẵn sàng yểm trợ phong trào Toàn Quốc Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác sắp xảy ra trong quốc nộị

Đồng bào hải ngoại đang sống yên lành trong những quốc gia tự

do nên không sợ bị Việt Cộng khủng bố, hãy gọi nhau đoàn kết và thực hiện mấy công tác rất dễ dàng và không nguy hiểm sau đây :

a / Nghe lời tôi kêu gọi mà cấp tốc tạo lập một Ủy ban Hành động duy nhất, tạm gọi là Ban Sách Động Bất Hợp Tác, gồm một số chính khách quốc gia và một số tu sĩ có tài đức và uy tín, chọn lẫn nhau trong năm tôn giáo lớn hay trong các hội đoàn,

không phải với tư cách đại diện các giáo hội hay hội đoàn mà chỉ là công dân Việt Nam ;

b / Ủy Ban Sách Động sẽ lập chương trình huấn luyện 2 triệu Đồng bào Hải ngoại (và 78 triệu Đồng bào Quốc nội) để thấu hiểu và, đến ngày giờ ấn định, Quốc nội sẽ một loạt và cùng một ngay nằm nhà làm tổng đình công, tổng bãi thị, tổng bãi khóa, còn Hải ngoại sẽ đóng một ngày lương hỗ trợ ;

c / Ủy Ban - và mọi cá nhân kiều bào - phổ biến chương trình huấn luyện ấy bằng mọi cách truyền thông hiện dại như Internet,

đài phát thanh, báo chí, thư từ và điện thoại cá nhân, áo gấm về làng để dỉ tai v.v. . .;

d / Làm quốc tế vận thông thường, không van nài xin xỏ;

e / Vẫn tiếp tục đấu tranh theo tôn chỉ của đảng mình - nếu có - để hỗ trợ thêm cho phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác ;

g / Đúng đến ngày mà Đồng bào Quốc nội được lệnh đóng cửa nằm nhà, thì mọi Đồng bào Hải ngoại sẽ vẫn làm việc như thường lệ, nhưng sẽ đóng góp một ngày lương ấy, hoặc một phần cũng được, vào "một chương mục hỗ trợ và nhân đạo"do ban Sách Động sẽ mở trong một hay nhiều ngân hàng ngoại quốc :

số tiền ấy sẽ một phần lớn được phân phát nhân đạo cho những Đồng bào Quốc nội túng thiếu, một phần nhỏ làm sở

phí truyền thông và văn phòng của Ban Sách Động, tất cả dưới sự kiểm soát nghiêm chỉnh của một Ban Kiểm soàt Tài chính độc lập.

Từ 26 năm nay Đồng bào Hải ngoại đã tham dự biết bao nhiêu cuộc mít tinh và biểu tình la ó để chống cộng, thật đáng kính phục nhưng vô hiệu vậy vô ích. Lần này Đồng bào thử hô hào và hỗ trợ Quốc nội làm Bất Hợp Tác, xem có được hài lòng mãn nguyên hay không ? Chẳng lẽ chỉ có thế mà không làm được ?!

3. Sách động 78 triệu Đồng bào quốc nội mở phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác trong bất động và bất bạo động, cùng một ngày một loạt Còn 78 triệu đồng bào quốc nội đang sống trong ngục tù Việt Cộng, thì chỉ việc làm ăn như thường trong khi nhận được những chỉ thị nửa kín nửa hở của quốc ngoại ; rồi đến khi có lệnh, mới tự động làm hai công tác rất dễ dàng và không nguy hiểm sau đây :

a / chuẩn bị lương thực, thuốc men ăn uống cho thời gian nằm nhà, thời gian đó rất ngắn, chỉ có đúng một ngày tức 24 tiếng đồng hồ, nhưng rất có thể tái tục ít lâu sau để

chứng tỏ lòng quả cảm và công phẫn của đồng bào đối với cường quyền Việt Cộng ;

b / Đúng ngày ấn định, từ 0 giờ đến 24 giờ, toàn quốc sẽ đóng cửa nằm nhà bất động và bất bạo động tức là không ra đường, không gậy gộc gạch đá, không tụ tâp, mít tinh hay biểu tình tuần hành, không đập phá, không la hò, mà chỉ có : mọi thương gia lớn nhỏ, từ ông chủ tịch tổng giám đốc đại công ty đến bà nhà quê buôn thúng bán mẹt, đều tổng bãi thị, đóng cửa nằm nhà ; mọi công chức và tư chức, không là đảng viên Việt Cộng hay là đảng viên tỉnh ngộ, từ tổng bộ trưởng đến tùy phái, tống thơ văn, mọi nông dân và thợ thuyền, mọi bà già trầu và các cậu lái xe ôm, các cô ma-ri xến đều tổng đình công, đóng cửa nằm nhà ; tại các trường học, mọi đốc học, giáo sư, học sinh và sinh viên đều tổng bãi khóa, đóng cửa nằm nhà ; bộ đội và công an Việt cộng tỉnh ngộ thì buông súng, bỏ lựu đạn và bỏ trại về nằm nhà ; tắt điện nước ;

ngưng mọi xe cộ lưu thông ; đóng cửa mọi nhà thương (ngoại trừ phòng cấp cứu) v.v. . . Mọi đường phố, thi thành, đồng quê đều như một nước chết.

Như vậy chỉ một ngày thôi để chứng tỏ thái độ. Nếu cần thì sau này sẽ tái diễn !

Chỉ một ngày thì ai cũng có tiền mua vật thực. Nhưng toàn quốc cả 78 triệu người (hay là chỉ đại đa số thôi cũng được) cùng đóng cửa nằm nhà bất động và bất bạo động, thì không một bộ đội hay công an Việt cộng nào dám xông vào nhà ai mà bắt ai !

Sức mạnh của Đồng bào quốc nội là sự Đoàn Kết đó. Vậy không chút nguy hiểm cho bản thân. Và hết sơ Việt Cộng.

Từ 26 năm nay chưa bao giờ Đồng bào được mời thử sức ạnh ấy, nay thử làm xem có mãn nguyện hay không ? Đóng vai "kép chính"mà chỉ có việc đóng cửa nằm nhà !

Xin ghi rằng kế hoạch Bất Động, Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác của tôi khác với kế hoạch của Thánh Gandhi về khía cạnh nằm nhà. Ông Gandhi để cho dân chúng Ấn Độ ra nằm ngổn ngang trên các đường rầy xe lửa, hay ra bến tàu đổ hàng hóa xuống sông : tuy không dùng võ khí song cũng không hẳn là bất bạo động !

Chu+a bao giờ có chuyện hẳn hoi là dân Ấn Độ toàn quốc đóng cửa nằm nhà !

Chỉ một ngày Bất Hợp Tác sẽ không đủ để "đuổi"Việt Cộng,

nhưng cũng làm cho chúng lung lay, cho thế giới thấy rõ là toàn dân Việt Nam đã phỉ nhổ chế độ cộng sản. Sức ép của Quốc tế về kinh tế tài chính sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền chưa thể

lường trước được.

Và sẽ còn nhiều ngày Bất Hợp Tác nữạ Cho đến thành công !

4. Kêu gọi Liên Hiệp Quốc gửi một Phái Đoàn Quan sát sang Việt Nam với nhiệm vụ rất phụ thuộc là gìn giữ an ninh trật tự, xác nhận tính cách vô chính thống của Đảng CSVN, xác nhận sự hiện diện của những trại tập trung, và bảo trợ cuộc tiếp thâu chính quyền trong giai đoạn chót.

Đây không phải là một lời kêu cứu và nhờ vả Liên Hiệp Quốc thay thế cho nhân dân Việt Nam.

Mà chỉ để xác nhận những tố cáo trên đây về hành vi bất chính của Đảng Cộng Sản Việt Nam, để chứng kiến những hành động chính đáng sắp có của Đồng bào Việt Nam. Vậy Liên Hiệp Quốc chỉ được mời quan sát, và có thẩm quyền quan sát, bằng cách cho một Phái đoàn Quan sát (une Mission dYObservation) với một số quân đội mũ xanh sang Việt Nam để thực hiện những công tác sau đây :

a) Gìn gìữ an ninh trật tự ;

b) Xác nhận rằng Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam,

tự xưng là "lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hộiỴỴ, không hề bao giờ có xin và được sự chấp thuận của Nhân dân Việt Nam bắng bất cứ một cuộc bầu cử nào trong hơn 50 năm trời nay;

c) Xác nhận sự hiện diện của rầt nhiều trại tập trung gọi là trại cải tạo, như trại Nam Hà, trại Bình Điền, trại A-20/ Phú Yên và Đầm Đùn v.v. . . để giam giữ những "tù nhân lương tâm"tức là những kẻ đối lập, những vị chân tu mà không có xét xử hay chỉ xét xử trò hề giả tạọ

d) Xác nhận tính cách hoàn toàn thành thật và tự do của "ngày Toàn Quốc Bất Hợp Tác";

e) Bảo vệ các phe phái quốc gia trong một cuộc hội nghị công khai để thành lập một chính phủ lâm thời, thay thể "Đảng và Nhà nướcỴỴ, ngõ hầu đem lại cho toàn dân Việt Nam một chế độ thực sự Tự do Dân chủ, đúng như ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà Liên Hiệp Quốc có nhiệm vụ buộc mọi quốc gia ký kết phải tôn trọng.

H - Kết luận : Di chúc chính trị

Kính thưa toàn thể Đồng bào,

Tôi chẳng còn được sống bao lâu nữạ

Chỉ có ước vọng sau cùng là để lại cho đồng bào một kế hoạch vừa bất bạo động tức là không đổ máu, không nguy hiểm cho bản thân, vừa thực sự cứu quốc và tư cứu, bởi vì kế hoạch phải có hy vọng thành công thì mới đáng đem ra thi hành.

Vậy xin kính chào và kính chúc đồng bào bền chí và đoàn kết để thành công. Như câu châm ngôn nói : "Mi hãy giúp mi, Trời sẽ giúp mi".

Và theo cổ tục, xin kết thúc bằng một bài thơ nôm na :

Lên lão 90 cảm tác Tân Tỵ niên lai, chín chục rồi Cuộc đời lặng lẽ ngậm ngùi trôi Văn chương sử hứng đà tuôn hết Bệnh tật chân run khó đứng ngồi Cứu Quốc, khuyên dân đừng hợp tác Hưng Nòi, đâu dạ bỏ buông xuôi Cẩm nang để lại cho dương thế Hữu chí thành công : lão mỉm cườị

Iron Monkey wrote:

Con Ong Antony (ngoại ô Nam Paris) ngày 10 / 17 tháng 12 năm 2001 Kính thưa toàn thể Đồng bào Quốc nội và Hải ngoại,

A - Tự giới thiệu Tôi tên là Hoàng Cơ Thụy, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1912 tại làng Đông Ngạc (tức làng Vẽ), huyện Từ Liêm tỉnh Hà Đông, Bắc Việt, hồi trẻ có làm Luật sư cạnh Toà Án Thượng Thẩm Sài Gòn (Nam Việt, giai đoạn 1943-1969 tức 26 năm) rồi Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Ai Lao (giai đoạn 1969-1975 tức 6 năm), nay chỉ là một lão già vô danh tiểu tốt, sống lưu vong từ ngày 30-4-1975 tại Pháp Quốc.

Trong 17 năm rảnh rỗi và suy tư trong lúc về già (từ 1984 đến 2000), tôi có "đơn thương độc mã"sáng tác một bộ sách lịch sử Việt Nam nhan đề Việt Sử Khảo Luận, gồm 15 tập dầy gần 4000 trang với hai mục đích :

1 / Cố gắng tái lập Sự Thật Lịch Sử nước ta từ thái cổ

đến hiện đại, mà xưa nạy thường bị các sử quan thời phong kiến, các sử gia thời thực dân hay cộng sản cố tình bóp méọ

2 / Từ cố gắng ấy, trình bày khách quan những đại tội của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện tại đối với Quốc Gia Dân Tộc.

Năm nay (Tân Tỵ) tôi lên lão 90, tuổi già sức yếu, bệnh tật triền miên, gần đất xa trờị Dù sao thì cũng đã được hưởng một cuộc đời tạm đủ phận danh, con cháu thành tài, thêm vài đứa chắt nhỏ, nên không còn chút tham vọng chi cho bổn thân hay gia đình.

Duy còn có một hoài bão trước khi nhắm mắt, là được thấy 78 triệu đồng bào trong nước sống yên vui trong Tự do Thịnh vượng.

B - Nhắc lại Quốc nạn 1. Sau khi đã xét lại lịch sử hơn hai nghìn năm qua của Dân tộc Lạc Việt, từ thuở sơ khai đến 1 200 năm đô hộ của Bắc phương, qua 900 năm thời quân chủ phong kiến rồi 90 năm của thực dân Pháp, chưa bao giờ ta thấy Dân Tộc Việt Nam đã bị tai nạn nô lệ hóa như hiện nay, dưới thời thuộc Cộng.

Không kể giai đoạn khai quốc của họ Hồng Bàng với 18 vua Hùng Vương, thì trong thời đô hộ Tàu, mặc dầu tổ tiên chúng ta mất tự chủ, song không mất tự do và cá tính một dân tộc riêng biệt và bất khuất. Những thái thú Tàu có tham lam tàn ác đến đâu cũng vẫn để cho dân Lạc Việt được sống tự nhiên nẩy nở. Họ còn đem văn minh Trung Hoa thời ấy, là Phật Lão Nho sang giảng dạy cái văn hiến của họ mà dân Lạc Việt cực kỳ hoan nghênh hấp thụ.

Qua đến 900 năm thời quân chủ phong kiến, các triều đại Đinh,

Ngô, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn Tây Sơn và guyễn Phước Tộc, tuy rằng mọi vua Việt vẫn nhìn nhận làm chư hầu của các thiên tử Tàu, cứ ba năm một lần tiến cống, song tất cả đều gìn giữ cái văn minh Phật Lão Nho của Tàu, coi như khuôn vàng thước ngọc, nhất là về mặt dân sinh thì hoàn toàn để cho Dân Tộc Đại Việt được tự do phát triển. Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi : hoàng đế Bảo Đại, vị vua sau cùng và mang tiếng chây lười hờ hững của nhà Nguyễn, vẫn còn dùng câu ^'y làm châm ngôn trị vỉ (coi S.M. Bảo Đại, Le Dragon dỴAnnam, Plon, 1980,

trang 296).

Sang đến thời thực dân Pháp, ở "thuộc địa"Nam Kỳ hay "bảo hộ"Trung Bắc Kỳ, các chính phủ Pháp đại diện bởi ông "Toàn Quyền Đông PhápỴỴ, mặc dầu triệt để cấm đoán và trừng trị nặng nề dân "An Nam"làm chính trị chống Pháp, song họ cũng để cho người dân được tự do sinh sống, lại đem thêm cái văn minh Tây phương sang để mở mang trí tuệ cho dân "An Nam mítỴỴ.

Họ gọi thế là "nhiệm vụ văn minh hóa của nước PhápỴỴ. Và toàn dân Việt Nam lại đã nô nức noi theo, từ việc bỏ chữ Hán và thay thế bằng chữ "quốc ngữ"gốc la-tinh do các nhà truyền giáo Tây phương chế biến ra từ thế kỷ thứ XVI (Bồ Đào Nha rồi Í Đại Lợi rồi Pháp), đến tinh thần khoa học và lý luận Tây phương.

2. Không may cho vận nước truân chuyên, đã bị 30 năm chinh chiến (1945-1975) do Hồ Chí Minh, chủ tịch đảng Cộng Sản Việt Nam, khởi xuớng với sự chỉ huy và viện trợ của Cộng Sản Quốc Tế.

Ngay trong giai đoạn đất nước chia đôi (1954-1975), dân miền Nam tuy có bị sống dưới những chế độ độc tài phát xít hay độc tài đen, gia đình trị rồi quân phiệt, song tự do, nhân phẩm và tài sản của họ vẫn còn được tôn trọng. Chỉ từ sau ngày 30-4-1975 đến nay, Đồng bào toàn quốc mới phải sống dưới chế độ gông cùm đảng trị của cộng sản : không chút Tự do, không dám ho hen lên tiếng chê bai chống đối, không chút tư gia tài sản. Nói tóm tắt, nhân dân ta từ năm 1976 không còn quyền làm chủ đất nước trong thời đại Dân chủ Tự do của toàn thể nhân loại hiện nay ; trái lại, phải làm thân nô lệ cho một nhóm người mà Đồng bào không hề lựa chọn, nếu chống đối thì đi trại cải tạo tập trung. Hết là "Dân vi quý"!

Còn bọn chúng thì sau 30 năm đã lường gạt lôi cuốn đồng bào làm "kháng chiến giành độc lập chống ngoại xâmỴỴ, đến khi đắc thắng chúng mới tự lột mặt nạ ái quốc, lộ chân tướng cộng sản bằng cách đổi tên nước thành "Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt NamỴỴ, và bỏ cái danh hiệu giả vờ Đảng ao Động để chính thức và công khai lấy lại tên cũ là "Đảng Cộng Sản Việt NamỴỴ.

Nói rộng hơn nữa thì nói dối và gian ngoan lường gạt là một quốc sách của cộng sản quốc tế nói chung, của Việt cộng nói riêng : chúng đã tự phản bội mọi hứa hẹn và chữ ký của chúng trong những bản hiệp ước quốc tế như Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và Hiệp định Paris ngày 27-1-1973. Trong ngôn ngữ luật học, gian dối có tên la-tinh là fraus, tên Pháp là fraude với câu châm ngôn Fraus omnia corrumpit ( La fraude corrompt tout, gian dối làm hư hết). Bởi vậy cho nên mọi chính phủ do Hồ Chí Minh và đảng Việt cộng lập nên từ năm 1945 đến nay đều là vô giá trị

đối với dân chúng Việt Nam là kẻ đã bị lường gạt.

Chúng không hề có chính thống (caractère illégitime), đáng bị sa thảị

Về mặt thực hành lý tưởng cộng sản, Hồ Chí Minh nói là làm cải cách ruộng dất mà thực sự là đãu tranh giai cấp, tàn sát mọi trí phú địa hào, chưa kể vụ diệt chủng (génocide) ở Huế năm Mậu Thân 1968. Rồi từ ngày chiếm xong toàn quốc, chúng cướp giật mọi tài sản tư hữu của nhân dân, kể luôn của giai cấp mà chúng gọi là "vô sảnỴỴ. Chúng mở những hợp tác xã và công ty quốc doanh mà thực sự là để cho bọn chúng được toàn quyền tham nhũng, dĩ công vi tự Lại vô học ngu dốt không tài trị

quốc, đưa đất nước xuống hàng những quốc gia nghèo nhất trên thế giới (xin coi các Tập VSKL/9 và kế tiếp).

Vậy chúng đã triệt để làm khổ toàn dân, đáng bị sa thảị

3. Từ ngày 30-4-1975 đến nay đã có nhiều người, ở trong nước và hải ngoại, tìm phương cách diệt trừ bọn cường quyền Việt cộng. Nào võ trang kháng chiến từ hải ngoại hay trong quốc nội,

nhưng rồi thế yếu bị dẹp tan, xử tử (vụ Trần Văn Bá năm 1984) hay tuẫn tiết trong rừng xanh (vụ em ruột tôi là Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh năm 1987). Nào kêu gọi Quốc tế can thiệp, trong hay ngoài khuôn khổ Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, nhưng đều bị các cường quốc làm ngơ, nhiều lắm là tỏ lời thương vay tiếc mướn (vụ nhóm Luật gia Vũ Quốc Thúc năm 1988, coi VSKL/14 tr. 487).

Nào năn nỉ và đề nghị hòa giải hòa hợp với Việt cộng, nhưng chúng không thèm để ý (vụ nhóm Thông Luận).

Lại còn một số "kiều bào"vô tâm, đã quên hết nỗi nhục nhằn lưu vong hồi 1975, nay giàu sang phú quý thì lại "áo gấm về làng"nói để thăm gia đình, ngờ đâu rằng chỉ đã đem tặng cho Việt cộng một số tiền viện trợ khổng lồ, không đối trọng,

chừng 2 tỉ đô-la một năm. Vô tâm trước sự xót xa công phẫn của những ngưới ái quốc (xin coi bài Tình cảm và lương tri trong phong trào áo gấm về làng (phê bình một khẳng định của Bùi Tín), một khảo luận của bác sĩ Trần Văn Tích, đăng trong tập V SKL/16 tr. 114 và tái đăng trong bán nguyẽt san Văn Nghệ Tiền Phong số 617 ngày 1/16-10-2001).

Nhưng may thay, lòng ái quốc của đại đa số đồng bào, còn mắc kẹt trong quốc nội hay đang lưu vong nơi hải ngọại, vẫn còn sôi sục. Kể luôn trong những thế hệ thanh niên sinh sau đẻ muộn, cái tinh thần bất khuất ấy của Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa để

lại, vẫn còn nóng bỏng và tồn tại y nguyên trong trái tim con cháu Lạc Hồng.

Bằng chứng ở hải ngoại là những bài "tố cộng"hùng hồn đăng trên báo chí, những hội đoàn chống cộng thành lập mọi nơi,

những cuộc biểu tình rầm rộ ngoài công lộ Tây phương, những tuyệt thực, những tẩy chay la ó trước các biểu diễn trơ trẽn của cộng nô (vụ Trần Trường), chiếc xe ủi đất đâm nhào vào tường rào tư dinh của sứ quán VC ở Paris, việc đốt cháy cờ đỏ sao vàng của VC, việc treo cao cờ vàng ba sọc đỏ của V NCH phất phới bay trên ngọn tháp Eiffel ở Pháp hay trên tháp tuợng Bà Tư Do ở Mỹ (các vụ Trần Hồng), hay chiếc máy bay liệng truyền đơn trên bầu trời Sài Gòn ngày tổng thống Mỹ Clinton sang thăm viếng Việt Nam (vụ Lý Tống) v. v. . .

Những hành động cực kỳ đẹp mắt ấy đều rất có ích, có tính cách rõ rệt "công tâm"như của Nguyễn Trãi thời xưa, song không thể vì thế mà diệt trừ được bọn cường quyền Việt Cộng trong quốc nộị Cũng như kế hoạch công tâm của Nguyễn Trãi, đâu có giúp được Lê Lợi bình Minh, nếu không có chiến lược quân sự hai hồi của tướng Nguyễn Chích (xin coi tậpVSKL/3 trang 502-536) !

Bằng chứng ở quốc nội là những đòi hỏi tuy lễ phép song đanh thép của những đồng bào ái quốc như bác sĩ Nguyễn Đan Quế,

hay của những kẻ có hàng chục năm "tuổi đảng"nhưng nay tỉnh ngộ,

như nữ si Dương Thu Hương hay cựu tướng VC Trần Độ.

Hồi 1989-1991 bỗng có những cuộc cách mạng bao động của toàn dân ở Đông Âu rồi ngay tại Nga-Xô khiến Đệ Tam Quốc Tế tại Âu Châu bị sụp đổ tan tành, thì Đồng bào lưu vong nơi hải ngoại đều hồi hộp mong chờ một cuộc "cách mạng chống đảng"của Đồng bào quốc nộị Nhiều cuộc biểu tình tuần hành và phá phách đã xuất hiện tại Thái Bình, Xuân Lộc hay Cao Nguyên, nhưng vì quá ít oi lẻ tẻ nên đều bị công an và bộ đội Viêt Cộng dẹp tan.

Khoảng từ năm 1986, nền kinh tế quá suy sụp khiến Việt Cộng phải lựa chọn một chính sách "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩaỴỴ. Có người mong rằng tình thế ấy sẽ gây nên một "diễn biến hòa bìnhỴỴ, khiến Việt Cộng phải đương nhiên thoát xác và trao trả mọi Nhân quyền cho Đồng bàọ

Nhưng bọn chúng đang cầm quyền, đang tham nhũng, đang biển thủ

công quỹ, vậy có bao giờ chúng chịu buông bỏ mồi ngon ! Trái lại, chúng bành trướng thêm lãnh vực của các công ty quốc doanh,

đặt ra những luật lệ nhiêu khê để cho phép mở những doanh nghiệp tư nhân. Chính sách mới ấy chỉ làm giàu thêm cho những cán bộ VC cao cấp làm chủ tịch những cơ sở quốc doanh, hay là cho các giám đốc những công sở có thẩm quyền cho phép và . . .

tham nhũng.

Ngày 11-5-1999 ở Việt Nam, bác sĩ Nguyễn Đan Quế (đã phải vào tù ra khám mấy lần trong mấy chục năm trời) lại đưa ra một bản tuyên cáo, chỉ lễ phép xin chính quyền Viêt Cộng "tách Đảng ra khỏi chính Quyền, quân đội, công an"; nghĩa là vẫn để cho cái chính phủ và quốc hội cộng sản hiện hữu được tại vị với quyền tổ chức tổng tuyển cử : nhưng tin làm sao được ? ! Bác sĩ Quế lễ phép đe dọa rằng : "Không thế, Bộ Chính Trị hoàn toàn chịu trách nhiệm đã đẩy quần chúng đến chỗ phải đứng dậy giành quyền quyết định tương laị"Nhưng ba năm qua, Bộ Chính Trị làm ngơ, mà cách mạng bạo động cũng chưa thấỵ

Rồi lại có những "thỉnh nguyện"của những vị chân tu như hòa thương Thích Huyền Quang (83 tuổi), hòa thượng Thích Quảng Độ

(73 tuổi) bên Phật Giáo, cụ hội trưởng Lê Quang Liêm (81 tuổi) bên Hòa Hảo, linh mục Nguyễn Văn Lý (55 tuổi) bên Công giáo : họ

chỉ thỉnh cầu nhà cầm quyền Việt Cộng, vẫn ngồi nguyên tại vị, ra ơn tôn trọng quyền Tự do Tôn giáo và mọi Nhân quyền,

nhất là quyền bầu cử tự do, cho toàn dân. Nhưng tất cả các tu sĩ ấy đều bị quản chế ; rồi linh mục Nguyễn Văn Lý lãnh án tù 15 năm, trong đó có 13 năm vì "phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc"(xin đọc là "phá hoại đoàn kết với ĐảngỴỴ) và 2 năm vì "chống lại quyết định quản chế"! (án xử kín ngày 19-10-2001 của cái gọi là Tòa Án Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên - Huế, coi nguyệt san Việt Nam Dân Chủ tháng 11-2001 tr. 3-4).

4. Về tham nhũng, tôi đã phân tách trong bài "Từ thiên đường cộng sản đến thiên đường tham nhũng"(xin coi VSKL/16 tr. 62-70 tức 19 trang) cái diễn biến lịch sử hai hồi trong hành vi của Đảng Cộng Sản Việt Nam, từ trên xuống dưới, có thể đúc kết như sau :

a / Hồi thứ nhất, khoảng từ 1930 đến 1975, kể từ Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn, bọn chúng đang phải dồn hêt nỗ lực và tài sản quốc gia ở những vùng chiếm đóng vào công cuộc chiến tranh mà mục tiêu công khai của chúng là "chống ngoại xâm giành độc lậpỴỴ, mục tiêu thầm lén là "giành độc quyền thống trị tại Việt Nam để thực thi chủ nghĩa cộng sản": đó là cuộc chiến tranh "chống Pháp-Bảo Đại"hồi 1941-1954, rồi "chống Mỹ-Diệm, chống Mỹ-Thiệu" hồi 1956-1975. Vả lại những vùng do chúng mới chiếm dóng hồi ấy, gọi là bưng, đều nghèo nàn thiếu thốn. Cho nên chúng chưa kịp nghĩ đến chuyện làm giàu cá nhân, chỉ dương cao khẩu hiệu "chống ngoại xâm giành độc lậpỴỴ, còn trong bụng thì bị ám ảnh bởi cái lý thuyết cộng sản là sẽ tạo lập "thiên đường cộng sản"tai Việt Nam rồi tại Đông Dương. cái lý thuyết cộng sản là sẽ tạo lập "thiên đường cộng sản"tại Việt Nam rồi tại Đông Dương.

b / Hồi thứ hai, từ 1975 đến ngày nay (2001) là 26 nâm trời, sau khi bọn Việt Cộng dã hoàn thành cuộc chiến tranh xâm lăng của chúng, thì tâm lý chúng liền đổi thay khác hẳn. Cái động cơ "chống ngoại xâm giành độc lập"đã tiêu tan vì mãn nguyện ;

cảnh giàu sang phú quý thực sự của dân miền Nam Việt Nam khiến cho chúng tối mắt, thèm muốn say sưa, đúng với lòng "tham sân si"của mọi con người ; cái oai quyền chiến thắng khiến cho chúng được toàn quyền vơ vét mọi tài sản riêng tư của dân chúng miền Nam, dưới danh hiệu thực thi chũ nghĩa cộng sản, nhưng thực sự là để chúng có toàn quyền chiếm hữu những tài sản ấy, dĩ công vi tự Nói cách khác, lòng tham không đáy của con người đà nổi dậy, đưa dến cảnh tham nhũng làm giàu của mọi tên Việt Cộng, từ Bộ Chính Trị đến công an phường xã.

Vậy từ năm 1976 tham nhũng đã thành quốc sách, biến Việt Nam thành một thiên đường tham nhũng, thay thế cho thiên đường cộng sản mà ngày nay không một tên Việt Công nào còn nghĩ đến.

Theo nghiên cứu hồi cuối năm 2000 của một số chuyên viên ngân hàng, thì tài sản của 18 tên Việt Cộng chóp bu đã vơ vét được tới nay là (VC Politburós Networth, Internet Thursday December 21, 2000) :

1. Lê Khả Phiêu, hồi ấy làm Tổng Bí Thư đảng CSVN....................... 1 tỉ 170 triệu mỹ kim 2. Trần Đức Lương, Chủ tịch Nhà Nước...................... 1 tỉ

130 triệu- 3. Phan Văn Khải, Thủ Tướng (và con trai)...................... 1 tỉ

200 triệu- 4. Nông Đức Mạnh, Chủ Tịch Quốc Hội (Tổng Bí Thư đàu năm 2001).............. 135 triệu- 5. Nguyễn Văn An, Chủ T?h Ban Chấp Hành Trung Ương ..............

143 triệu- 6.Nguyễn Tấn Dũng, Đệ Nhất Phó Thủ Tướng ......................

1 tỉ 480 triệu- 7. Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ Tướng ...................... 1 tỉ 150 triệu- 8. Nguyễn Đức Bình, Giám Đốc Viện Quốc Gia Hồ Chí Minh ...................... 140 triệu- 9. Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc ...................... 1 tỉ 173 triệu- 10. Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Kiểm soát Dảng ...................... 117 triệu- 11. Trung Tướng Phạm Văn Trà, Bộ Trưởng Quốc Phòng ...................... 1 tỉ 360 triệu- trong đó có 10 tấn vàng chiến lợi phẩm đem từ Cao Miên về (1979-1989) 12. Trung Tướng Lê Minh Hương, Bộ Trưởng Nội Vụ . 156 triệu- 13. Lê Xuân Tùng, Chủ tịch Đảng ở Hà Nội 116 triệu- 14. Trương Tấn Sang, Chủ tịch Ủy ban Kinh Tế ...................... 1 tỉ 124 triệu- 15. Phạm Thanh Ngân, Chính Ủy Quân đội ................ 12 triệu- 16. Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh ......... 197 triệu- 17. Phan Điền, Chủ tịch Đảng ở Đà Nẵng ............. 156 triệu- 18. Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Đảng ở Hà Nội .................

...................... 140 triệu- Cứ như vậy từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, giữa chính quyền và gian thương, từ đại thương mại quốc tế và quốc doanh đến tiểu thưong mại buôn thúng bán mẹt,

nơi đâu cũng có công an và hội đồng nhân dân xã sẵn sàng thu "thuếỴỴ, cướp nhà cướp dất của đồng bào, chỉ khuếnh trương kinh tế cho lấy lệ.

Còn đồng bào toàn quốc thì sống trong cơ cực, ngoại trừ các đảng viên cộng sản và bọn gian thương đồng lõa thì giàu to,

biến thành những "tư bản đỏỴỴ. Theo thống kê quốc tế, tiền thu nhập trung bình mỗi ngưiời Việt Nam trong nước hiện nay (năm 2000-2001) là 341 mỹ kim một năm, tức 28,41 mỹ kim một tháng, ương đương với chừng 200 quan Pháp (FF), quá thấp so với : Singapour (27.286 MK, nhiều hơn gấp 80 lần), Đài Loan (11.977 MK), Hàn Quốc (8.651 MK), Thái Lan (2.187 MK), Phi Luật Tân ( 1.082 MK), Trung Cộng 736 MK), Nam Dương (633 MK) v.v. . . Trong số 171 quốc gia, VN được ếp hạng thứ 145, nói cách khác, V N là một trong số 26 nước nghèo nhất thế giới (lưỡng nguyệt san Tiếng nói ngưồi Việt quốc gia số 19 thàng 8, 9 và 10-2001 tr. 16).

Riêng tôi có "phỏng vấn"3 ông Việt kiều áo gấm về làng,

được nghe kể rằng : 1/ Ông thứ nhất, chủ một tiệm cơm lớn ở quận 16 Paris rất sang trọng, đem về VN một số tiền lớn để làm quà phân phát cho bà con và định ở chơi 3 tháng, nơi đâu cũng được bà con tiếp đón tưng bừng làm cỗ thết, nhưng trời ơi ! ruồi ơi là ruồi, được có 3 tuần thì ông bạn bị

đau quặn bụng, phải bỏ ngay VN về Pháp. 2 / Ông thứ hai, một Pháp lai có vợ Viêt, hai vợ chồng về VN thăm bà con, được mời ngủ

trong một biệt thự mới xây cất khang trang ở Sài Gòn nhưng trời ơi ! mùi hôi thối ở phòng vệ sinh từ dưới đất bốc lên làm nghẹt thở ; 3 / Ông thứ 3, một cựu tư chức trong một công ty Pháp nay đổi nghề làm taxi tư, cũng về VN chơi, có về cả đồng quê, thấy đâu cũng bùn lầy nước đọng, cống rãnh bẩn thỉu, không đèn điện không nước máy, ruồi nhặng như ong,

cơ khổ lắm bác ơi ! Chúng nó đâu có lo nghĩ đến sửa sang "infrastructure"(hạ tầng cơ sở) , dân quê nghèo nàn lắm bác ơi !

Thế mà "Đảng và Nhà nước"vẫn leo lẻo tuyên bố bài trừ tham nhũng.

Một số người, hoặc ngây thơ hoặc trào phúng, ngày 2-9-2001 tức quốc khánh VC, làm đơn xin thành lập "Hội Nhân Dân Việt Nam ?ng Hộ Đảng và Nhà Nước Chống Tham Nhũng (Gọi tắt là Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng)ỴỴ, viện lẽ rằng (nguyên văn hép lại trong nguyệt san Việt Nam Dân Chủ số 10, tháng 10-2001) :

"Hiện nay, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước và cản trở sự phát triển của Đất nước. Nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã hải phát biểu : "Nếu không chống tham nhũng thì Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạọ"Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh vừa nhận chức cũng hải tuyên bố : "Phải chống tham nhũng quyết liệt hơn !"Và Chủ Tịch Quốc Hội - Nguyễn Văn An vừa nhận chức cũng phải nói : "Xin ân chủ đâu có được, phải đãu tranh mới có dân chủ. Xin công bằng cũng không được, phải đãu tranh mới có công bằng. Chống tham nhũng dĩ nhiên cũng phải đấu tranh rất quyết liệt."

"Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước, chúng tôi xin phép được thành lập "Hội Nhân Dân Việt Nam Ủng Hộ Đảng à Nhà Nước Chống Tham Nhũng (Gọi tắt là "Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham NhũngỴỴ) v.v. . .

"Thay mặt Ban Trù Bị Thành Lập,

Ký tên : Phạm Quế Dương - 37 Lý Nam Đế - Hà Nội Trần Văn Khuê - 296 Nguyễn Trãi - Quận 5 - TP Hồ Chí Minh"

Thế là ngay hôm 5-9-2001 tức ba hôm sau, hơn hai chục người trong Ban Trù Bị Thành Lập bị công an ở Hà Nội bắt lên đồn "làm việc"tức tra hỏi, như : đại tá Phạm Quế Dương, cụ già Hoàng Minh Chính (80 tuổi còm nhom, 1 lần tù Tây, 3 lần tù ta), Lê Chí Quang (cử nhân trẻ tuổi) và bà mẹ, Trần Đai Sơn, Trần Bá,

tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang v.v. . . Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân bị đưa lên máy bay, trục xuất về Sài Gòn.

Theo bài tường thuật của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang (đăng trong báo kể trên), tất cả bị cật vấn về tội "có hoạt động liên can đến an ninh quốc gia"(xin đọc là an ninh Đảng), bị hỏi cung suốt 1 ngày hay 2, 3 ngày rồi tha về. Sau đây là lời của tên công an Tâm nói với Lê Chí Quang :

- Tao tha cho mày vì mày ốm yếu chứ không, tao đã bắt mày rồị Nhưng tao cấm mày ra khỏi nhà.

- Có văn bản pháp luật nào cấm tôi ra khỏi nhà không ?

- Tao không cần văn bản nào cả.

- Văy là văn bản miệng à ?

- Đúng. Miệng tao là pháp luật.

- Vậy thì tôi vẫn cứ ra khỏi nhà nếu tôi muốn.

- Tao sẽ bắt mày ngay nếu mày ra khỏi nhà, mày đừng thách ta !

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang phê bình : "Hiện đang có hàng loạt người dựa vào thanh thế của Đảng để tham nhũng. Quyền thế o,

tham nhũng to (diển hình là cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười), quyền thế nhỏ, tham nhũng nhỏ. Đảng kêu gọi tha thiết nhưng không dám thực tâm chống tham nhũng vì sợ chống tham nhũng đến tận cùng sẽ trở thành chống Đảng. Các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình . . . ngây thơ muốn xung phong giúp Đảng chống tham nhũng thật nên tất nhiên phải bị tiêu diệt ngay trước khi sắn tay áọ"

Và kết luận bằng một câu sáo ngữ: "Thế đấy, hung tàn thế nào rồi cũng bị đẩy luị Đại nghĩa tất sẽ ngày càng ngời sáng vì chúng ta thuộc về nhân dân, thuộc về đất nước, thuộc về công lý. Hà Nội, 12 tháng 9 năm 2001. Nguyễn Thanh Giang."(áp dụng lời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại cáo năm 1427 : Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lãy chí nhân mà thay cường bạo).

5. Nhưng trong lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay, có bao giờ thấy đại nghĩa đương nhiên thắng hung tàn ? Nếu không có sử dụng võ khí như Ngô Quyền phá Nam Hán, như Lý Thường Kiệt phạt Tống,

như Trần Hưng Đạo chống Nguyên, như Lê Lợi bình Minh, như Nguyễn Huệ phá Thanh, thì có bao giờ ta thắng và giữ gìn độc lập ? Cũng trong lý luận ấy, nếu không có quân đội Nhật Bản làm đảo chính quân sự ngày 9-3-1945 thì có bao giờ thực dân Pháp bị lật đổ ở Đông Pháp (xin coi VSKL/8) ? Hay ở bên Đông Âu,

nếu không có toàn dân nổi loạn, nhất là ở các thủ đô, và đến phút chót được quân đội hùa theo, thì các chế độ CS tại đó đâu có bị đổ vỡ tan tành ? (xin coi VSKL/3 và 4, VSKL/14 tr. 3775).

6. Nói tóm tắt, vấn đề của Đất nước và Dân tộc Việt Nam hiện nay nằm trong ba mệnh đề là :

a / Toàn dân đều khát khao kỳ vọng một nền Tự do Dân chủ thực sự, thể hiện bằng phương pháp thông thường là những cuộc bầu cử thành thật, tự do và có định kỳ, sẽ có hy vọng đem lại Thịnh vượng Hạnh phúc cho đồng bào quốc nội và con cháu sau nàỵ

b / Chế độ Xã hội Chủ nghĩa, độc tài độc đảng, tàn ác và tham nhũng mà đảng cộng sản Việt Nam đã gian dối áp đặt trên toàn quốc từ gần 50 chục năm trời nay đã đi ngược lại cái kỳ vọng và lý tưởng ấy, vậy nhất định cần phải diệt trừ để

cứu dân dựng nước.

c / Nhưng làm sao cứu quốc và hưng quốc ?

C - Làm sao Cứu Quốc và Hưng Quốc ?

1. Trên đây vừa tóm lược những cố gắng vô hiệu quả của đồng bào trong và ngoài nước trong 26 năm qua để giải trừ chế độ Việt cộng (1975-2001).

Đọc những bài "tố cộng"rất công phu tha thiết như của bác sĩ Nguyễn Đan Quế ngày 11-5-1999, của hòa thượng Thích Quảng Dộ

ngày 21-2-2001, của 144 linh mục Việt Nam hải ngoại ngày 15-8-2001, của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ngày 12-9-2001, v.v. . , chỉ toàn thấy những van xin Việt Cộng, những mong mỏi hành động cứu quốc ủa đồng bào (nhưng không biết bằng cách nào), những cầu cứu hão huyền vào can thiệp của quốc tế. Một số người tỏ tinh thần ỷ lại vào áp lực kinh tế của Hoa Kỳ hay vào "Ý Trời"(bài của luật sư Hoàng Duy Hùng trong bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong số 610 ngày 16/30-6-2001). Đúng là há miệng chờ sung. Thật chán ngán.

Văy ngày nay, ngoài chuyện toàn dân nổi loạn làm cách mạng kiểu Đông Âu, thì người dân Viêt Nam không còn có cách chi để diệt trừ được chế độ Việt Cộng hay sao ?

2. Riêng tôi cũng đã nhiều năm đắn đo suy nghĩ, đọc và viết lại trong 17 năm (từ 1984 đến 2001) lịch sử Việt Nam từ thái cổ

đến hiện tại để "ôn cố nhi tri tânỴỴvà tìm phương cứu quốc một cách cụ thể.

cụ thể. không tài náo đội đá vá trời làm được công chuyện ấỵ

Nhưng trong lịch sử nhân loại, bao giờ chuyện cứu quốc cũng phải do một cá nhân khởi xướng, đưa ra một giải pháp, võ trang hay không, nhưng coi như chính nghĩa, để kêu gọi đồng bàọ

Đặc biệt nhất là trường hợp thiếu tướng Pháp Charles de Gaulle, 50 tuổi năm 1940, đã dám ngày 18-6-1940 ở Luân Đôn một mình đứng ra kêu gọi đồng bào Pháp đừng vì thua một trận mà nản chí, hãy bền tâm tiếp tục cuộc chiến tranh chống quân đội Đức Quốc Xã của Hitler vừa xâm lăng nước Pháp. Nên ông dược chính phủ Anh của thủ tướng Churchill ủng hộ mà từ đó mới dần dần giải phóng được quốc gia Pháp năm 1944.

Trường hợp thư hai là ông Gandhi, một thường dân Ấn Độ, tay không, không một người ủng hộ, mà năm 1907 (khi ấy ông mới 38 tuổi và đang làm luật sư) dám "đơn thương độc mã"đưa ra ột chiến dịch bất bạo động và bất hợp tác (une campagne de non-violence er de non-participation) với chế độ thực dân Anh. Ông phải vào tù ra khám nhiêu lần, làm tuyệt thực, nhưng bền tâm tranh đấu bất bạo động, nên được dân chúng Ấn tôn làm Mahatma (La Grande âme, Đại Linh Hồn) ; rồi bất ngờ Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra, thời cơ run rủi khiến nước Anh phải trao trả độc lập cho Ấn Độ và cho Ông năm 1947.

3. Bỗng một ý kiến điên rồ nảy ra trong chí óc tôi : tại sao ta không mở tại quốc nội Việt Nam một chiến dịch bất bạo động và bất hợp tác với cường quyền Việt Cộng, như ông Mahatma Gandhi ?

Càng suy nghĩ, tôi càng thấy ý kiến đó rất hay nhưng cũng rất khó thi hành.

Khó khăn thứ nhất là làm sao tìm được môt vĩ nhân ở quốc nội có đủ tài ba gan dạ như ông Gandhi để vượt mặt Việt Cộng, bất châp hiểm nguy mà kêu gọi 80 triêu đồng bào làm Toàn Quốc Bất Hợp Tác ? Khó khăn thứ nhì là làm sao ta liên lạc được với người vĩ nhân chưa quen biết ấy, khi mọi phương tiện giao thông giữa hải ngoại và quốc nội đều bị Việt Cộng ngăn cản ? Khó khăn thứ ba là làm sao vị vĩ nhân ấy kêu gọi được 78 triệu đồng bào, khi mọi phương tiên truyền thông trong nước đều bị hạn chế? Khó khăn thứ bốn là làm sao cho 80 triệu đồng bào ấy dám hết sợ cộng sản, liều chết nghe theo lời kêu gọi của đấng vĩ nhân của mình để làm Bất Hợp Tác,

dù là bất bạo động ? v.v. . .

Bởi vậy cho nên tôi đành tạm xếp bỏ cái ý kiến dớ dẩn ấỵ

Chỉ biết thở than : "Công việc cứu quốc còn nhiều gian nan !"

Đ - Mong mỏi và liên lạc với các Ủy ban Liên Tôn 1. Bỗng đến tháng 6 năm 2001 có một bài tham luận đăng trong tờ lưỡng nguyệt san Tiếng nói người Việt quốc gia ở Pháp, số 17 tháng 4 và 5-2001 tr. 13, ký tên Hồ Tấn Vinh (Úc Châu), cho hay rằng tại Việt Nam vừa mới có một Ủy ban Liên Tôn được ra đời, do mấy vị chân tu Phật gíáo, Công giáo vă Hòa Hảo sáng lập, để

công khai chống đối cường quyềnViệt Cộng về việc trà đạp Tự do Tôn giáọ Tác giả bàn thêm :

". . . Ủy ban liên tôn đánh dấu một chuyển hướng quyết liệt từ một thái độ chịu đựng đến thái độ đương dầụ . .

Giáo hội đã có sẵn trong tay cái xi măng trời phú đó là cái bất động và bất hợp tác mà hình thức biểu dương của nó là bãi thị, bãi khóa và đình công. . . Mọi người có uy tín đều có thể hùng hồn kêu gọi đình công, bãi thi, bãi khóa, nhưng không có ai nghe theọ Chỉ có Ủy ban liên tôn mới hội tụ đủ

điều kiện làm lời hiệu triệu, kết hợp cả triệu người thành một khốị

" Bây giờ đến cái thắc mắc chánh. Thí dụ như Ủy ban liên tôn hiệu triệu dân chúng đình công, bãi thị, bãi khóa, và mọi ngưòi nghe theo lời, ở nhà đóng cửa lại, nấu cháo hớp suốt một tuần lễ thì làm sao Việt cộng chịu thua ?

"Cái ẩn số này có vẻ kỳ bí nhưng thật ra đã có giải đáp trong lịch sử. Khi Mahatma Gandhi tổ chức biểu tình và tuyệt thực, ông không có súng AK hay quân du kích yểm trợ mà quân đội Anh trở

về nước và chính phủ Anh trả lại độc lập cho Ấn Độ."

Mặc dầu bài tham luận trên đây quá sơ lược nên không đi sát với lịch sử Ấn Độ, song cũng đưa ra được một ý kiến hay,

là hiện nay ở quốc nội Việt Nam vừa có một Ủy ban Liên Tôn thành hình để công khai chống đối cường quyền Việt cộng về việc trà đạp Tự do tôn giáo, thì Ủy ban ấy cũng rất có thể

kêu gọi đòng bào làm bất hợp tác, tức tổng bãi công, bãi thị

và bãi khóa để buộc Việt cộng phải rút lui !

Tôi suy nghĩ : Ta đang kiếm một vĩ nhân ở quốc nội dám đương đầu với Việt cộng lại có uy tín đối với đồng bào, thì đây ! Có Ủy ban Liên Tôn mới thành lập đó ! Các vị chân tu của Ủy ban đã phải vào tù ra khám nhiều năm và nhiều lần, vậy sẵn có tinh thần "tử vì đạoỴỴ. Lại không hề có ẩn ý tham danh tham lợi, chỉ vì Tự do Tôn giáo ở Việt Nam mà hy sinh. Thì nếu nay ta đề nghị với Ủy ban việc chỉ huy kêu gọi đồng bào quốc nội làm Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác để "đuổi Việt cộngỴỴ,

chắc Ủy ban sẽ vui lòng đồng ý ngay 100 phần 100 !

2. Tôi bèn đi tìm thêm tài liệu về Ủy ban Liên Tôn Quốc Nộị

Được biết rằng (theo tuần san Tiếng Dân ở bên Mỹ, số 227 ngày thứ sáu 4-5-2001 tr. 6) :

Mới có độ dăm muời tháng nay, khoảng từ cuối năm 2000, cường quyền Việt cộng bỗng thẳng tay đàn áp mọi tôn giáo ở trong nước. Họ "bổ nhiệm"nào sư quốc doanh, nào linh mục quốc doanh,

nào mục sư quốc doanh, nào bà sơ quốc doanh, nào Cao Đài quốc doanh, nào Hòa Hảo quốc doanh, v.v. . . để cướp chùa, cướp nhà thờ thánh thất, đồng thời họ giam cầm hanh hạ các vị chân tu dám phản đốị

Sự đàn áp và vi phạm trắng trợn quyền tư do tôn giáo đã gây công phẫn uất ức cho một số thiện nam tín nữ mà không biết kêu cứu bằng cách nào, chỉ còn nước tự thiêu ! Đó là trường hợp của bà Nguyễn Thị Thu bên Hòa Hảo tự thiêu ở Hău giang gày 19-3-2001, ngày vía Đức Huỳnh Giáo chủ. (Sau này sẽ còn vụ huynh trưởng Hồ Tấn Anh bên Phật giáo tự thiêu ở Đà Nẵng ngày rằm tháng 7 Tân Tỵ tức 2-9-2001, ngày quốc khánh của VC ) Một chế độ độc tài tàn ác đến mức ấy, với một chính sách khủng bố "quốc gia hành dân chúng" chỉ đáng một trừng phạt là lật đổ không thương.

Trong thực tế, một số chức sắc chân tu bèn lập ra Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết Quốc Nội để tranh dấu, đúng là ngày 6 tháng 2 năm 2001, giữa cụ Lê Quang Liêm, hội trưởng giáo phái Hòa Hảo, làm chủ tịch, Hòa Thương Thích Thiện Hạnh, Linh Mục Chân Tín và Linh Mục Nguyễn Văn Lý, vị này làm Tổng Thư Ký. Tiếp theo đó là việc thành lập Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết Hải Ngoại ở

bên Mỹ, với Hòa Thượng Thích Giác Lượng, chủ tịch và Linh Mục Phan Phát Hườn, tổng thư ký.

Hai hội đồng ấy có mục tiêu rộng rãi là : 'tranh đấu vì phúc lợi cho dân tộc Việt Nam, cho sự tự do tôn giáo tại Việt Nam,

cho quyền làm người của dân tộc Việt Nam" (lời cụ Lê Quang Liêm) ; "đòi tự do tôn giáo, tự do dân chủ cho toàn nước Việt Nam" (lời Linh Mục Lý). Đó là một bước tiến bộ lớn.

Song đến tận bây giờ (cuối tháng 6-2001) cả hai hội đồng liên tôn đều chưa dám động chạm đến sự hiện sinh của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ chỉ mới có "tha thiết kêu gọi đồng bào trong nước cũng như ngoài nước hãy làm đủ mọi cách trên cương vị

của mình (không biết cách gì !) để gây sức ép cho người Cộng Sản Việt Nam hôm nay phải chấp nhận để các Văn Phòng Dân Chủ

phải được sớm thành lập trong nước, để tiến đến một nền dân chủ thực sự qua những cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, có quốc tế giám sát (lời linh mục Lý).

Hai Hội Đồng Liên Tôn ấy vừa mới ra chào đời được ba háng thì, ở quốc nội, Linh mục Nguyễn Văn Lý bi bắt giam trở lại ngày 17-5-2001 và Hòa Thương Thích Quảng Độ lai bị "quản chế"tại chùa ngày 7-6-2001.

Dù sao thì Hội Đồng Liên Tôn Hải Ngoại, nằm ngoài vòng cương tỏa của Việt Cộng, vẫn còn hoạt động ; ngay trong quốc nội,

các vị tu hành trong mọi chùa chiền thánh thất "chưa quốc doanh"còn đầy rẫy, vẫn còn thế đấu tranh trong bóng tốị

Văy đã đến lúc ta nên đề nghị với các nhà chân tu của năm tôn giáo đi thêm bước nữa, quyết liệt hơn nữa, là hưởng ứng và chỉ huy phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác, là cuộc chiến sau cùng nhưng chắc thắng để "đưổi Việt CộngỴỴ, tựu thành ước mơ cứu quốc và hưng quốc của toàn thể đồng bào !

3. Thế là tôi, mặc dầu già lão 90 tuổi, tim đau chân chậm,

nhưng vì lòng trắc ẩn đối với Tổ quốc non sông, nên cứ bắt đầu cặm cụi làm song song ba công việc :

a / Nghiên cứu, viết một loạt bài tham luận về việc xây dựng tức tạo thành kế hoạch Toàn Quốc Bất Hợp Tác (từ tháng 6 đến tháng 10-2001) ; sau này những bài ấy được in vào Tập Việt Sử Khảo Luận, Phụ biên 2 tức VSKL/17 dưới nhan đề "Làm sao Cứu Quốc và Hưng Quốc ?ỴỴ, đã nạp bản vào Thư viện uốc gia Pháp.

b / Tuyên truyền, tức phổ biến tới báo chí và một số nghĩa hữu, những ý kiến ấy một cách công khai, càng rộng càng hay,

không sợ VC nghe lỏm. Để trưng cầu ý kiến.

c / Hành động sơ khai, tức tìm đường liên lạc với ít nhất Hội Đồng Liên Tôn Hải Ngoại, để thành lập Ban Sách Động ất Hợp Tác.

Về phần nghiên cứu, các bài tham luận của tôi đều được tôi coi như có sự đồng tình đương nhiên của các Ủy Ban Liên Tôn,

Quốc nội và Hải ngoại, đứng làm đầu não chỉ huy Phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác. Cho nên tôi mạnh dạn đề nghị một Phong trào dài lâu chừng một tháng để, lần đầu và chót, có thể

thật sự "đuổi"VC ra khỏi chính quyền và chấm dứt chế độ Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam.

Về phần hành động, thì vừa khi đó, các vị lãnh đạo Ủy Ban Liên Tôn Hải Ngoại bỗng nhiên đi "du thuyết"sang Paris, nên tôi đã dễ dàng được gặp chư vị là : Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, giám đốc hành động của Ủy ban Quốc tế cho Tự do Tôn giáo tại Việt Nam (hội thảo ngày 15-7-2001) ; Hòa thượng Thích Giác Lượng và Linh mục Phan Phát Hườn, chủ tịch và tổng thư ký Hội đồng Liên tôn Đoàn kết Hải ngoai (hội thảo 7-9-2001). Ngoài ra, có một hội thảo của Ủy ban Liên lạc các Tôn giáo tại Âu châu, tổ chức ngày 21-10-2001 duới sự chủ tọa của : Hòa Thượng Thích Minh Tâm (chùa Khánh Anh, Pháp), Đức Ông Philippe Trần Văn Hoài (Rome, Í Đại Lợi, vắng mặt phút chót), Hội trưởng Hồ Minh Châu (Hòa Hảo,

Pháp), Hiền tài Lê Trung Cang (Cao Đài, Pháp), mục sư Huỳnh Văn Công (Tin Lành, Hòa Lan).

Tôi đã hân hạnh được gặp mặt và chuyện trò cùng tất cả

những vị chức sắc ấy, lại trình tặng mỗi vị một cuốn ỴỴLàm sao Cứu Quốc và Hưng Quốc ?"gồm những bài tham luận ủa tôi vừa mới viết và mới in xong. Các vị đều hoan hỷ và hứa sẽ thảo luận sau (coi hình chụp hôm 21-10-2001).

Ảnh chụp tại hội trường Ravel (Paris quận 12) ngày chủ nhật 21-10-2001 trong cuộc hội thảo của các chức sắc 5 tôn giáo tại Âu Châụ Từ trái sang phải : Hội Trưởng Hồ Minh Châu (Hòa Hảo), ục sư Huỳnh Văn Công (Tin Lành). Hiền Tài Lê Trung Cang (Cao Đài),

Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Hòa Thượng Thích Minh Tâm (Phật giáo).

Nguồn gốc : Nguyệt san Khánh Anh tháng 10-2001.

Song trong buổi hội nghị ngày 21-10-2001 về năm tôn giáo tại Âu Châu, Đức Ông Trần Văn Hoài, vắng mặt phút chót, có thư xin lỗi nhưng vẫn tỏ lòng công phẫn về sự bao tàn của Việt Cộng đối với các tôn giáo ; có câu như sau : "hiện nay các nhà tu như chúng tôi đều bị liệt kháng."

Tiếp theo lời tuyên bố bằng thư văn ấy, Hoà thượng Thích Minh Tâm ứng khẩu nói : "Như Đức Ông Trần Văn Hoài vừa phân rần,

các nhà tu hành chúng tôi nay đều bị liệt kháng tức bệnh Sida (Hội trường cười vang) ; vậy chỉ còn cách chờ mong vào chư vị

cư sĩ làm công chuyện Cứu Quốc, bọn tu hành chúng tôi chỉ có thể ủng hộ mà thôị"

Sau được biết thêm rằng : trong nội bộ Công giáo Việt Nam, có sự mâu thuẫn giữa một số linh mục ái quốc và hăng hái như Linh mục Lý, Đức Ông Hoài, và Hội đồng Giám Mục Việt Nam dè dặt hơn (không hiểu rõ lý do bên trong : hành động từ tốn ? Hay là đã có giám mục quốc doanh ?) ; cho nên không một linh mục nào dám tự nhận là "đại diện"cho Công Giáo để cùng với các giáo phái khác thành lập một Ủy ban Liên Tôn. Thế là Ủy ban Liên Tôn ở Âu Châu không thành hình !

Vừa khi ấy, có tin rằng tại quốc nội, Linh mục Nguyễn Văn Lý bị Việt Cộng lên án 15 năm tù (án xử kín ngày 19-10-2001).

Còn ba vị chức sắc của Ủy ban Liên Tôn Hải ngoại tại Mỹ cũng lặng im, chưa trả lời tôị Thấy nói cũng có vài vấn đề tế nhị trong nội bộ vài Tôn giáo !

E - Quyết định cá nhân sau cùng : thay đổi chiến lược Trước tình trạng tạm thời khiếm khuyết của các Ủy ban Liên Tôn,

quốc nội và hải ngoại, tôi phải làm gì ?

Cứu quốc như cứu hỏa, mà tôi thì quá già yếu, sống chẳng còn được bao lâu !

Song nếu không bắt đầu hành động, thì làm sao có ai biết mà tiếp nối công trình ? Một công trình đã được đưa ra công khai từ gần sáu tháng nay, lại - theo ý tôi - là giải pháp duy nhất còn lại để cứu quốc, nhất là bất bạo động, không nguy hiểm cho đồng bào quốc nội và để thực sự cứu quốc đến thành công !

Vậy tôi phải xét lại chiến lược và chiến thuật để đáp ứng tình thế mớị

Đã chưa nhờ được các Ủy ban Liên Tôn làm đầu tầu, và trong tình thế chính trị hỗn loạn, vô tổ chức, chia rẽ và tị hiềm hiện tại ở trong và ngoài nước, chưa có một tổ chức hay chính đảng nào có đầy đủ uy tín, thì có lẽ lão già này, không quản ngại tuổi cao sức yếu, không quản ngại mọi đàm tiếu thị phi hay vu khống ác ý, phải "đơn thương độc mã" đứng ra làm hiệu triệu một mình ! Có lẽ đó là số phận của tôi về cả hai mặt văn chương và chính trị !

Vậy chương trình và chiến lược đấu tranh Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác được sửa đổi và mường tượng sơ lược như sau :

1. Hạ tối hậu thư cho cường quyền Việt Cộng Thoạt đầu, cá nhân tôi chỉ là "một lão già công dân ViệtỴỴ,

hạ một tối hậu thư cho cường quyền Việt Cộng, ra lệnh chúng phải :

a / Lập tức, không kỳ hạn, trao trả tự do cho mọi người gọi là tù nhân lương tâm, tu sĩ hay cư sĩ ;

b / Lập tức, không kỳ hạn hay tối đa là đến ngày, tháng, năm (sẽ ấn định sau) là hạn chót, tự động rời bỏ mọi chức vụ

để trao trả chính quyền cho Dân Tộc Việt Nam. Quá kỳ hạn đó,

toàn dân trong quốc nội sẽ tỏ thái độ bằng cách Toàn Quốc Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác, tức tổng đình công, tổng bãi thị, tổng bãi khóa và nằm nhà trong một ngày 24 tiếng đồng hồ, để chứng tỏ lòng bất ưng và phỉ nhổ.

Trong lịch sử nước nhà, đã có hai lần Dân Tộc Việt Nam "bầu cử bằng chân"để chối bỏ chủ nghĩa cộng sản, là năm 1954 (cuộc di cư từ Bắc vào Nam) và năm 1975 (cuộc vượt biển lưu vong tỵ nạn). Thì ngày nay, Dân Tộc ta lại sẽ tỏ lòng chối bỏ

Cộng Sản với thể thức "bầu cử bằng nằm nhà một ngàyỴỴ.

Cần chi phải có lá phiếu !

Nếu Việt Cộng còn chút thật tình ái quốc, thì sẽ phải vui lòng chấp nhận và thi hành hai mệnh lệnh trên đây, không trù trừ ngoan cố, không giam cầm bắt bớ ai, không đổ máu cho cả hai bên.

Nghĩa là sẽ rút lui khỏi chính quyền để trở về đứng ngang hàng với mọi chính đảng khác, cùng nhau ra tranh cử hòa bình trong "những cuộc bấu cử thành thật, tự do và có định kỳỴỴ, cho quốc dân đồng bào thực sự làm "chủ"và toàn quyền lựa chọn.

Nói cách khác, chính VC sẽ tích cực tham gia vào công cuộc Hưng Quốc. Thì chăc rằng họ sẽ được hưởng sự khoan hồng, nếu không gọi là ưu ái, của toàn thể Đồng Bàovà. . . của Tiên Tổ

Lạc Hồng..

Riêng tôi xin đề nghị ngày Toàn Quốc Bất Hợp Tác vào ngày giỗ Quốc Tổ Húng Vương tức mồng 10 tháng 3 âm lịch. Hoặc một gày khác tùy ý Ban Sách Động lựa chọn.

2. Hô hào, tuyên truyền và huấn luyện 2 triệu đồng bào hải ngoại về kế hoạch Toàn Quốc Bất Hợp Tác trong bất bạo động để cứu 78 triệu đồng bào quốc nội Vẫn cá nhân tôi ngỏ lời kêu gọi toàn thể 2 triệu đồng bào đang lưu vong nới hải ngoại, phải sẵn sàng yểm trợ phong trào Toàn Quốc Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác sắp xảy ra trong quốc nộị

Đồng bào hải ngoại đang sống yên lành trong những quốc gia tự

do nên không sợ bị Việt Cộng khủng bố, hãy gọi nhau đoàn kết và thực hiện mấy công tác rất dễ dàng và không nguy hiểm sau đây :

a / Nghe lời tôi kêu gọi mà cấp tốc tạo lập một Ủy ban Hành động duy nhất, tạm gọi là Ban Sách Động Bất Hợp Tác, gồm một số chính khách quốc gia và một số tu sĩ có tài đức và uy tín, chọn lẫn nhau trong năm tôn giáo lớn hay trong các hội đoàn,

không phải với tư cách đại diện các giáo hội hay hội đoàn mà chỉ là công dân Việt Nam ;

b / Ủy Ban Sách Động sẽ lập chương trình huấn luyện 2 triệu Đồng bào Hải ngoại (và 78 triệu Đồng bào Quốc nội) để thấu hiểu và, đến ngày giờ ấn định, Quốc nội sẽ một loạt và cùng một ngay nằm nhà làm tổng đình công, tổng bãi thị, tổng bãi khóa, còn Hải ngoại sẽ đóng một ngày lương hỗ trợ ;

c / Ủy Ban - và mọi cá nhân kiều bào - phổ biến chương trình huấn luyện ấy bằng mọi cách truyền thông hiện dại như Internet,

đài phát thanh, báo chí, thư từ và điện thoại cá nhân, áo gấm về làng để dỉ tai v.v. . .;

d / Làm quốc tế vận thông thường, không van nài xin xỏ;

e / Vẫn tiếp tục đấu tranh theo tôn chỉ của đảng mình - nếu có - để hỗ trợ thêm cho phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác ;

g / Đúng đến ngày mà Đồng bào Quốc nội được lệnh đóng cửa nằm nhà, thì mọi Đồng bào Hải ngoại sẽ vẫn làm việc như thường lệ, nhưng sẽ đóng góp một ngày lương ấy, hoặc một phần cũng được, vào "một chương mục hỗ trợ và nhân đạo"do ban Sách Động sẽ mở trong một hay nhiều ngân hàng ngoại quốc :

số tiền ấy sẽ một phần lớn được phân phát nhân đạo cho những Đồng bào Quốc nội túng thiếu, một phần nhỏ làm sở

phí truyền thông và văn phòng của Ban Sách Động, tất cả dưới sự kiểm soát nghiêm chỉnh của một Ban Kiểm soàt Tài chính độc lập.

Từ 26 năm nay Đồng bào Hải ngoại đã tham dự biết bao nhiêu cuộc mít tinh và biểu tình la ó để chống cộng, thật đáng kính phục nhưng vô hiệu vậy vô ích. Lần này Đồng bào thử hô hào và hỗ trợ Quốc nội làm Bất Hợp Tác, xem có được hài lòng mãn nguyên hay không ? Chẳng lẽ chỉ có thế mà không làm được ?!

3. Sách động 78 triệu Đồng bào quốc nội mở phong trào Toàn Quốc Bất Hợp Tác trong bất động và bất bạo động, cùng một ngày một loạt Còn 78 triệu đồng bào quốc nội đang sống trong ngục tù Việt Cộng, thì chỉ việc làm ăn như thường trong khi nhận được những chỉ thị nửa kín nửa hở của quốc ngoại ; rồi đến khi có lệnh, mới tự động làm hai công tác rất dễ dàng và không nguy hiểm sau đây :

a / chuẩn bị lương thực, thuốc men ăn uống cho thời gian nằm nhà, thời gian đó rất ngắn, chỉ có đúng một ngày tức 24 tiếng đồng hồ, nhưng rất có thể tái tục ít lâu sau để

chứng tỏ lòng quả cảm và công phẫn của đồng bào đối với cường quyền Việt Cộng ;

b / Đúng ngày ấn định, từ 0 giờ đến 24 giờ, toàn quốc sẽ đóng cửa nằm nhà bất động và bất bạo động tức là không ra đường, không gậy gộc gạch đá, không tụ tâp, mít tinh hay biểu tình tuần hành, không đập phá, không la hò, mà chỉ có : mọi thương gia lớn nhỏ, từ ông chủ tịch tổng giám đốc đại công ty đến bà nhà quê buôn thúng bán mẹt, đều tổng bãi thị, đóng cửa nằm nhà ; mọi công chức và tư chức, không là đảng viên Việt Cộng hay là đảng viên tỉnh ngộ, từ tổng bộ trưởng đến tùy phái, tống thơ văn, mọi nông dân và thợ thuyền, mọi bà già trầu và các cậu lái xe ôm, các cô ma-ri xến đều tổng đình công, đóng cửa nằm nhà ; tại các trường học, mọi đốc học, giáo sư, học sinh và sinh viên đều tổng bãi khóa, đóng cửa nằm nhà ; bộ đội và công an Việt cộng tỉnh ngộ thì buông súng, bỏ lựu đạn và bỏ trại về nằm nhà ; tắt điện nước ;

ngưng mọi xe cộ lưu thông ; đóng cửa mọi nhà thương (ngoại trừ phòng cấp cứu) v.v. . . Mọi đường phố, thi thành, đồng quê đều như một nước chết.

Như vậy chỉ một ngày thôi để chứng tỏ thái độ. Nếu cần thì sau này sẽ tái diễn !

Chỉ một ngày thì ai cũng có tiền mua vật thực. Nhưng toàn quốc cả 78 triệu người (hay là chỉ đại đa số thôi cũng được) cùng đóng cửa nằm nhà bất động và bất bạo động, thì không một bộ đội hay công an Việt cộng nào dám xông vào nhà ai mà bắt ai !

Sức mạnh của Đồng bào quốc nội là sự Đoàn Kết đó. Vậy không chút nguy hiểm cho bản thân. Và hết sơ Việt Cộng.

Từ 26 năm nay chưa bao giờ Đồng bào được mời thử sức ạnh ấy, nay thử làm xem có mãn nguyện hay không ? Đóng vai "kép chính"mà chỉ có việc đóng cửa nằm nhà !

Xin ghi rằng kế hoạch Bất Động, Bất Bạo Động và Bất Hợp Tác của tôi khác với kế hoạch của Thánh Gandhi về khía cạnh nằm nhà. Ông Gandhi để cho dân chúng Ấn Độ ra nằm ngổn ngang trên các đường rầy xe lửa, hay ra bến tàu đổ hàng hóa xuống sông : tuy không dùng võ khí song cũng không hẳn là bất bạo động !

Chưa bao giờ có chuyện hẳn hoi là dân Ấn Độ toàn quốc đóng cửa nằm nhà !

Chỉ một ngày Bất Hợp Tác sẽ không đủ để "đuổi"Việt Cộng,

nhưng cũng làm cho chúng lung lay, cho thế giới thấy rõ là toàn dân Việt Nam đã phỉ nhổ chế độ cộng sản. Sức ép của Quốc tế về kinh tế tài chính sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền chưa thể

lường trước được.

Và sẽ còn nhiều ngày Bất Hợp Tác nữạ Cho đến thành công !

4. Kêu gọi Liên Hiệp Quốc gửi một Phái Đoàn Quan sát sang Việt Nam với nhiệm vụ rất phụ thuộc là gìn giữ an ninh trật tự, xác nhận tính cách vô chính thống của Đảng CSVN, xác nhận sự hiện diện của những trại tập trung, và bảo trợ cuộc tiếp thâu chính quyền trong giai đoạn chót.

Đây không phải là một lời kêu cứu và nhờ vả Liên Hiệp Quốc thay thế cho nhân dân Việt Nam.

Mà chỉ để xác nhận những tố cáo trên đây về hành vi bất chính của Đảng Cộng Sản Việt Nam, để chứng kiến những hành động chính đáng sắp có của Đồng bào Việt Nam. Vậy Liên Hiệp Quốc chỉ được mời quan sát, và có thẩm quyền quan sát, bằng cách cho một Phái đoàn Quan sát (une Mission dYObservation) với một số quân đội mũ xanh sang Việt Nam để thực hiện những công tác sau đây :

a) Gìn gìữ an ninh trật tự ;

b) Xác nhận rằng Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam,

tự xưng là "lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hộiỴỴ, không hề bao giờ có xin và được sự chấp thuận của Nhân dân Việt Nam bắng bất cứ một cuộc bầu cử nào trong hơn 50 năm trời nay;

c) Xác nhận sự hiện diện của rầt nhiều trại tập trung gọi là trại cải tạo, như trại Nam Hà, trại Bình Điền, trại A-20/ Phú Yên và Đầm Đùn v.v. . . để giam giữ những "tù nhân lương tâm"tức là những kẻ đối lập, những vị chân tu mà không có xét xử hay chỉ xét xử trò hề giả tạọ

d) Xác nhận tính cách hoàn toàn thành thật và tự do của "ngày Toàn Quốc Bất Hợp Tác";

e) Bảo vệ các phe phái quốc gia trong một cuộc hội nghị công khai để thành lập một chính phủ lâm thời, thay thể "Đảng và Nhà nướcỴỴ, ngõ hầu đem lại cho toàn dân Việt Nam một chế độ thực sự Tự do Dân chủ, đúng như ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà Liên Hiệp Quốc có nhiệm vụ buộc mọi quốc gia ký kết phải tôn trọng.

H - Kết luận : Di chúc chính trị

Kính thưa toàn thể Đồng bào,

Tôi chẳng còn được sống bao lâu nữạ

Chỉ có ước vọng sau cùng là để lại cho đồng bào một kế hoạch vừa bất bạo động tức là không đổ máu, không nguy hiểm cho bản thân, vừa thực sự cứu quốc và tư cứu, bởi vì kế hoạch phải có hy vọng thành công thì mới đáng đem ra thi hành.

Vậy xin kính chào và kính chúc đồng bào bền chí và đoàn kết để thành công. Như câu châm ngôn nói : "Mi hãy giúp mi, Trời sẽ giúp mi".

Và theo cổ tục, xin kết thúc bằng một bài thơ nôm na :

Lên lão 90 cảm tác Tân Tỵ niên lai, chín chục rồi Cuộc đời lặng lẽ ngậm ngùi trôi Văn chương sử hứng đà tuôn hết Bệnh tật chân run khó đứng ngồi Cứu Quốc, khuyên dân đừng hợp tác Hưng Nòi, đâu dạ bỏ buông xuôi Cẩm nang để lại cho dương thế Hữu chí thành công : lão mỉm cườị

Lão Trượng Hoàng Cơ Thụy, ngày 10 / 17-12-2001 14 Rue Pierre Vermeir 92160 Antony (France) Tél / Fax : 01 42 37 20 66 E-mail : Hoang-Co-Thuy@wanadoọfr