Tàng long, phục hổ

 

 

 

Bị trúng độc chưởng

 

Trung tuần tháng 10, 2000 một ngày đẹp trời tại hải cảng Aden thuộc xứ Yemen. Biển phẳng lặng như gương. Nắng vàng rực rỡ. Nhiệt độ 95 độ F. Trời trong xanh, lững lờ vài cụm mây trắng. Từ sáng sớm, quang cảnh hải cảng đã nhộn nhịp. Những tiểu đĩnh chạy tới chạy lui. Toán chuyên viên tiếp tế nhiên liệu lăng xăng chuẩn bị ống dầu, thử bơm và hoàn tất các thủ tục hành chánh cần thiết. Tất cả phải sẵn sàng vào lúc 9:30 sáng để Khu Trục Ham Cole (DDG-67) của Hải Quân Mỹ đến lãnh dầu sau một chuyến hải hành dài, khởi hành từ Hoa Kỳ vượt Bắc Đại Tây Dương, Điạ Trung Hải, xuyên qua kinh đào Suez, vào Hồng Hải và đến cảng Aden.

 

Đúng giờ như đã thông báo cho giới chức hải cảng, chiếc khu trục hạm tối tân chiều dài 505 feet trang bị hỏa tiễn viễn khiển từ biển khơi phăng phăng rẽ sóng tiến vào cảng. Vì lý do an ninh chiến hạm không cập cầu mà sẽ buộc phao ở giữa hải cảng. Ống dầu đã được nối ra phao. Khu trục hạm dự trù nhận dầu khoảng 3 tiếng và tiếp tục ra khơi trực chỉ vùng tuần tiễu trước cửa vịnh Ba Tư thuộc Ấn Độ Dương.

 

Yemen là một quốc gia nhỏ tại vùng Trung Đông giáp giới Saudi Arabia, cận kề Iran, Iraq, Sudan, Ai Cập. Tình báo Hoa Kỳ ghi nhận có nhiều nhóm phá hoại hoạt động tại Yemen, đáng kể là một nhóm Ả Rập có tên Al Queda liên hệ mật thiết với Osama Bin Laden, một nhà triệu phú Ả Rập có tinh thần quốc gia và tôn giáo quá khích, chủ trương chống lại Hoa Kỳ. (Osama Bin Laden theo Hồi Giáo (Muslim)). Tuy thế, Hoa Kỳ vẫn duy trì trạm tiếp tế nhiên liệu tại Yemen, như là một sự hiện diện cần thiết của Hoa Kỳ tại vùng này và để lôi kéo Yemen khỏi ảnh hưởng của những quốc gia Á Rập quá khích như Iraq. Yemen cũng muốn duy trì sự ghé bến của các chiến hạm Mỹ, đánh đổi lấy những lợi nhuận về mặt kinh tế do Hoa Kỳ cung cấp. Giới chức hải cảng có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho chiến hạm. Tuy thế Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Cole, Đại Tá Kirk Lippold, đã chỉ thị Sĩ Quan đương phiên cho đóng tất cả các cửa kín nước và tăng cường nhân viên võ trang trực ứng chiến trên đài chỉ huy và trên sân chính.

 

Chiến hạm giảm máy, từ từ tiến đến phao. Như thường lệ, nhân viên vận chuyển quăng giây mồi xuống các tiểu đĩnh do hải cảng cung cấp. Nhàn viên (người Yemen) trên tiểu đĩnh sẽ đem giây mồi đến phao. Tất cả có 3 tiểu đĩnh. Bất chợt một chiếc do hai người Yemen lái tiến lại cập ngang hông chiến hạm, ngay dưới đài chỉ huy và bên ngoài phòng máy chánh số 1. Nhân viên chiến hạm chưa kịp phản ứng thì một tiếng nổ long trời xẩy ra. Những mảnh vụn của tiểu đĩnh bay tứ tung và hai nhân viên cảm tử người Yemen tan như xác pháo. Sức công phá của loại thuốc nổ mạnh hơn TNT phá tung sườn tầu phía tả mạn một lỗ thủng dài 40 feet, rộng 40 feet (14 X 14 thước) ngay trên đường ngấn nước. Nước tràn vào như thác đổ. 17 thủy thủ thiệt mạng, 33 bị thương. Chiến hạm nghiêng 4 độ phía tả hạm, cơ hồ muốn chìm. Nhờ sự can đảm và nỗ lực vượt bực cũa những toán phòng tai cũng như nhờ Hạm Trưởng đã cho lệnh đóng tất cả các cửa kín nước, nên chiến hạm vẫn nổi mặc dù máy móc hoàn toàn bất khiển dụng và phần kiến trúc vỏ và thân tầu hư hại trầm trọng.

 

29 tháng 10 năm 2000, chiến hạm, được trục lên chiếc tầu vớt hạng nặng của Na Uy có tên M/V Blue Marlin và vượt đại dương quay về Mỹ. Sau 3 tháng trên biển, chiến hạm về bến, được tân trang và tu sửa tại hải xưởng Pascagoula tiểu bang Mississippi, bắt đầu tháng 3 năm 2001.

 

Tái xuất giang hồ

 

Ngày 14 tháng 9 năm 2001, sau gần nửa năm hải xưởng tận lực sửa chữa, Cole được hạ thủy. Tuy máy chánh chiến hạm chưa khởi động được, nhưng hải xưởng đã hoàn tất phần vỏ tầu và các khung sắt bị hư hại. Tổng cộng trên 550 tấn sắt bị cắt bỏ và thay thế. Như vậy phần sửa chữa chính và quan trọng đã hoàn tất. Phần còn lại là thay thế các máy móc phụ bị hư hại, sau đó là giám định trục quay và chân vịt. Thử máy chính và điều chỉnh tất cả các bộ phận trên chiến hạm (radar, truyền tin, giàn phóng hỏa tiễn v.v.) được thi hành kế tiếp. Cuối cùng, thủy thủ đoàn được chỉ định nhập hạm, tham gia chương trình tái huấn luyện và thử máy đường trường.

 

Được biết phí tổn đóng khu trục hạm là một tỹ mỹ kim. Kỳ sửa chữa này tốn 365 triệu mỹ kim, chưa kể tiền tầu dòng trả cho Na Uy. Giới chức cao cấp của Hải Quân Hoa Kỳ cho hay Cole sẽ gia nhập hạm đội và hoạt động trở lại khoảng tháng 4 năm 2002.

 

Long tàng, hổ phục

 

Chi tiết mà giới Hải Quân các nước kể cả Hải Quân Việt Nam hải ngoại quan tâm có phải thật sự Cole nhờ các cửa kín nước đã được đóng chặt nên nổi hay nhờ kỹ thuật đóng tầu tân kỳ (Mỹ muốn gữ kín vì bí mật quân sự) khiến vỏ tầu hư hại nặng như vậy (ngang dọc 14 thước), Cole vẫn không bị chìm. Đặc biệt giới quân sự quốc tế thán phục khả năng sửa chữa và tân trang của hải xưởng Hoa Kỳ. Với thời gian kỷ lục trên nửa năm, Cole đã được khiển dụng trở lại.

 

Điều này khiến người ta nhớ lại biến cố Trân Châu Cảng 60 năm về trước. Giới quân phiệt Nhật toan tính giáng một đòn chí tử lên Hạm Đội Hoa Kỳ để triệt tiêu hoặc ít nhất cũng làm suy yếu trầm trọng, không có cơ hội phục hồi kịp thời gây ảnh hưởng đến giấc mộng bành trướng quyền lực của Nhật Bản. Không ngờ, Hải Quân Hoa Kỳ đã hồi phục nhanh chóng, ngoài trừ vài chiếc bị chìm vì hư hại hoàn toàn, Hoa Kỳ đã sửa chữa những chiếc khác và mau lẹ hoạt động trở lại. Hoa Kỳ tham chiến là điểm khởi đầu sự thàm bại của Nhật trong đệ nhị thế chiến. Tài liệu lịch sử cho hay, khi các chiến lược gia Hải Quân Hoàng Gia Nhật đưa ra kế hoạch tấn công Trân Châu Cảng, Đô Đốc Yamamoto là ngưởi phàn đối mãnh liệt nhất. Trong những chuyến du hành quan sát tại Hoa Kỳ, ông đã chứng kiến khả năng dồi dào và hùng hậu của quốc gia này. Lúc đó lực lượng Nhật trải quá mỏng tại Đông Nam Á, tài nguyên dự trữ hậu phương đã cạn, khiêu chiến khiến Hoa Kỳ nhẩy vào vòng chiến, là một toan tính nguy hiểm. Nhưng ý kiến lẻ loi của ông không được ai nghe, vì tất cả đang say men chiến thắng với những thành quả dễ dàng đạt được tại châu Á. Là một quân nhân, ông phải thi hành kế hoạch tấn công Trân Châu Cảng của thượng cấp. Sau này máy bay chở ông đi thanh sát chiến trường bị không quân Hoa Kỳ phục kích và bắn rơi, nên ông không hiện diện để chứng kiến lời tiên đoán của ông thành sự thật, khi Hoàng Đế Nhật ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện năm 1945.

 

Nhật Bản đã đánh thức con cọp đang ngủ. (Trung Cộng thường ví von Hoa Kỳ là cọp giấy). Tương tự, tổ chức Al Queda của Osama Bin Laden năm 1998 đã gài bom, phá sập tòa đại sứ Mỹ ở Phi Chàu, năm 2000 tấn công khu trục hạm Cole, không kể những vụ khủng bố lẻ tẻ nhắm vào quân nhân và công dân Hoa Kỳ đồn trú hoặc sinh sống tại hải ngoại. Chính phủ Clinton la hoảng nước Mỹ bị tấn công, đe dọa truy lùng và trừng phạt quân khủng bố, nhưng chỉ là những lời hù suông, nguội dần theo thời gian.

 

Được đà, 11 tháng 9, Osama Bin Laden, một lần nữa, tấn công thẳng vào đầu não nước Mỹ (WTC đã từng bị đặt chất nổ phá hoại một lần nhưng không gây thiệt hại đáng kể).

Bị đòn đau, cọp Hoa Kỳ bấy lâu nay ngủ gật đã vùng dậy nhe nanh múa vuốt. Không quá một tháng, A Phú Hãn cách xa nửa vòng trái đất nếm mùi bom đạn. Sau 5 năm cai trị, chính phủ của nhóm cuồng tín Taliban sụp đổ sau chưa đầy hai tháng. Osama Bin Laden không biết đang lẩn trốn nơi đâu.

 

Trần Quán Niệm