Trần Hoài Thư: "Diều Hâu 405"
Cùng Những Chúc Thư 
Của Người Lính Trận

Vĩnh Liêm


Khi Trần Hoài Thư đổi về Vùng IV Chiến Thuật vào năm 1971, "Diều Hâu 405" (biệt danh của Trần Hoài Thư) vẫn c̣n lừng lững ngang tàng qua bộ quân phục rằn ri cùng chiếc mũ rê Biệt Kích. Lúc đó, Trần Hoài Thư là phóng viên chiến trường của Vùng IV Chiến Thuật. Tuy anh không c̣n là Trung-Đội-Trưởng Biệt-Kích nữa, nhưng nét phong trần của anh do Đại Đội 405 Thám Kích thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh đă tôi luyện anh qua 4 bốn năm (từ 1967 tới 1971) không dễ ǵ một sớm một chiều tẩy xóa nhanh được. 

Trần Hoài Thư đi đi về về giữa chiến trường śnh lầy Miền Tây và Tây-Đô. Người yêu và cũng là hiền thê của anh là dân Tây-Đô thứ thiệt. Chị Nguyễn Ngọc Yến sinh trưởng và lớn lên ở Tây-Đô, nơi có bến Ninh-Kiều thơ mộng. Tây-Đô cũng là nơi tập họp đông đảo văn nghệ sĩ ở Miền Tây, chẳng hạn như thi sĩ Duy Năng, thi sĩ Diên Nghị, họa sĩ Ngy Cao Nguyên, nhà văn Chu Tấn, họa sĩ Lê Triều Điển, thi sĩ Nguyễn Bá Thế, thi sĩ Lư Thị Kim-Xương, kư giả Chu Sinh, thi sĩ Lộc Vũ, thi sĩ Bùi Đức Long, kư giả Hải Bằng, thi sĩ Ngũ Yên, thi sĩ Trần Kiên Thảo, thi sĩ Trần Kiêu Bạt, thi sĩ Phạm Kim, v.v... Tây- Đô có nhật báo Đuốc Miền Tây của Ông Hải. Tây-Đô có chương tŕnh tao đàn trên đài phát thanh Cần Thơ do nhóm Về Nguồn thực hiện. Tây-Đô có rất nhiều đặc san mà tôi không nhớ hết, nay chỉ c̣n nhớ tờ Vượt Thoát mà thôi. Tây-Đô cũng có hai quán cà-phê văn nghệ nổi tiếng, đó là Quán Cà-phê Góp Gió và Quán Cà-phê Thằng Cuội.

Tôi đă gặp "Diều Hâu 405" tại Tây-Đô vào thời điểm đó. Thời điểm đó cũng là thời điểm đáng để ư nhất: Sinh hoạt văn nghệ đều khắp và nổi bật nhất. Quán Cà-phê Góp Gió thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt văn nghệ và ra mắt sách. Khi Góp Gió chết đi th́ Thằng Cuội xuất hiện và thay thế vai tṛ của Góp Gió. Thằng Cuội được nhiều lợi điểm và lợi thế hơn Góp Gió v́ nó nằm ngay tại trung tâm Tây-Đô, trang trí mỹ thuật hơn, và tốn kém nhiều hơn. Thi sĩ Viên Linh và thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng chịu khó từ Sài-G̣n bay xuống sinh hoạt với anh em văn nghệ sĩ Tây-Đô...

Tháng Tư năm 1975 tan hàng. Các đường dây điện thoại trong Vùng IV Chiến Thuật đều bị cắt đứt. Tôi đă mất liên lạc với Chu Tấn và Trần Kiên Thảo, hai người ở gần tôi nhất, chỉ mất 5 (Chu Tấn) tới 15 (Trần Kiên Thảo) phút lái xe. Thế là Chu Tấn và Trần Kiên Thảo bị kẹt lại, sau đó đi tù ở ngoài Bắc. Khi tôi xuống tới bến Ninh Kiều th́ phố xá đă tiêu điều, nhà nhà kín cửa. Không làm sao liên lạc được với Trần Hoài Thư! Thế là Trần Hoài Thư ở lại và bị tù tội mất 4 năm. Con tàu tôi rời bến Ninh Kiều để ra khơi lúc 8 giờ tối ngày 30 tháng 4 năm 1975, chở theo 127 người, đa số là những khuôn mặt lạ hoắc. C̣n những khuôn mặt văn nghệ sĩ thân thiết mà tôi muốn rước đi, th́ chẳng có một ai! "Diều Hâu 405" đang ở đâu? Từ nhà chị Yến xuống bến Ninh-Kiều chỉ mất có 10 phút lái xe. Tại sao "Diều Hâu" không bay được?

Năm năm cách biệt. Tôi đang ở tại Hoa Thịnh Đốn th́ hay tin Trần Hoài Thư đang có mặt tại Chùa Giác Hoàng ở Hoa Thịnh Đốn. "Diều Hâu 405" đă tới Mỹ! Mừng quá đi thôi! Vơ Văn Khiết và tôi định bụng phải bắt cho bằng được "Diều Hâu 405". Thế là Trần Hoài Thư, Yến và cháu Thoại đành phải dừng chân tại Suối Bạc (Silver Spring, Maryland). Chúng tôi sống một cuộc sống chật vật, nhưng không thiếu t́nh thương. Không khí lúc bấy giờ thật là vui v́ chúng tôi đang làm báo Hành Động, ṭa soạn lúc nào cũng có người lui tới. Chúng tôi tổ chức đêm văn nghệ 30 tháng 4. Trần Hoài Thư và Nguyễn Công Minh thủ vai "người tù cải tạo" trong một vở kịch rất là thành công. Đây là những tù nhân thứ thiệt nên diễn xuất rất có thần và rất thực.

Rồi thời gian trôi qua rất nhanh. Trần Hoài Thư cùng gia đ́nh cuốn gói đi xứ khác, không phải v́ công ăn việc làm mà v́ sự học vấn. Trần Hoài Thư cắp sách trở lại đại học đường. Thế là anh em chúng tôi xa nhau. Tôi vẫn ở lại nơi đây, trải qua nhiều cuộc thăng trầm của cuộc đời, lên voi xuống chó nhiều lần, đôi khi cười ra nước mắt. Chuyện văn nghệ th́ vẫn tiếp tục đều đều. Mái tóc th́ mỗi ngày càng ngả màu muối tiêu. Trần Hoài Thư mài miệt ở đại học đường, lấy đủ hai mảnh bằng Đại học mới chịu cầm bút trở lại.

Đầu năm nay tôi gặp lại Trần Hoài Thư tại Hoa Thịnh Đốn. Bắt cho bằng được bạn hiền ghé lại nhà chơi. Nhờ cuộc gặp gỡ t́nh cờ này mà tôi được biết Trần Hoài Thư đă "xuống núi". Anh cho biết đă xuất bản mấy tập thơ và truyện với phương pháp "Book-On-Demand" và kỹ thuật "Perfect Binding". Sách in đẹp, tŕnh bày trong sáng. Phương pháp mới này đang thịnh hành ở Mỹ. Tính đến nay, Trần Hoài Thư đă chính tay in được: Qua sông mùa mận chín (thơ, 2000), Đại đội cũ & Trang sách cũ (2000), Thế Hệ Chiến Tranh (2001), Thủ Đức Gọi Ta Về (2001), Ban Mê Thuột: Ngày Đầu Ngày Cuối (Tái bản, 2001), và Thơ Trần Hoài Thư (2000 & Tái bản 2001).

Bây giờ Trần Hoài Thư không c̣n là "Diều Hâu 405" nữa, nhưng văn của anh đă làm cho tôi sực nhớ lại "Diều Hâu 405" của thuở nào. Nếu Trần Hoài Thư không nhắc tới th́ chẳng có ai biết "Diều Hâu 405" là đơn vị nào, ở đâu? Trần Hoài Thư tâm sự: "Bộ quân sử không nói về 405. (Nếu có, chỉ ba ḍng trong trận đánh năm Mậu Thân). Quân đội miền Nam cũng chẳng bao giờ nhắc đến một 405. Nó vô danh. Nó đánh giặc không phi pháo dọn đường, không được yểm trợ tối đa như những lực lượng tổng trừ bị. Nó là những tổ 3 người, những toán 4 người, mang trên vai những ba lô với mười mấy ngày lương khô xâm nhập trong ḷng mật khu. Thế giới của nó là những cánh rừng thâm u, những ngôi làng sâu trong rừng, những con đường ṃn xâm nhập của địch. Nó không cần ai biết. Nó buồn như thế đó. Lạc loài như thế đó. Nó lầm ĺ như thế đó..." (Về một đại đội cũ, trang 7)

Nhưng sao Trần Hoài Thư phải nhắc tới nó? V́, theo lời của cựu Đại Đội Trưởng Hồ Văn Ḥa, "những người lính 405 anh hùng quá, dũng cảm quá, anh chưa bao giờ thấy đơn vị nào mà tất cả đều cùng một lượt xung phong lên đồi cỏ tranh, đứng thẳng mà tiến lên. Anh chưa bao giờ thấy một đại đội lại đánh tan tành một tiểu đoàn [Việt Cộng]..." (Về một đại đội cũ, trang 8 & 9)

Tôi cũng chưa thấy một đơn vị nào có t́nh đồng đội thắm thiết như 405. Đây, dẫn chứng của Trần Hoài Thư: "Rồi anh Ḥa nhắc lại hạ sĩ Y Brep và hạ sĩ Ba. VC trồi lên đánh cận chiến. Thằng Y Brep quạt Thompson bảo vệ anh, thằng Ba xô anh xuống hố. Và kết quả, Hạ sĩ Ba chết, và Y Brep bị mù một con mắt"... Và "Anh làm tôi nhớ lại hạ sĩ Đông mang máy truyền tin. Đông cũng cơng tôi mà chạy dưới bao lằn đạn. Và ông Y Suk đă cứu tôi thế nào trên đỉnh Kỳ Sơn." (Về một đại đội cũ, trang 8 & 9)

Trong bốn năm tại 405, Trần Hoài Thư đă 3 lần bị thương ngoài mặt trận tưởng đă đi đứt. Thế mà anh c̣n sống sót. C̣n được cơ hội cầm bút. Người lính vừa đánh giặc vừa cầm bút, đó là Trần Hoài Thư. Đại Đội 405 Thám Kích đă làm cho Trần Hoài Thư "cảm thấy ḿnh thật hănh diện, bởi v́ tôi nguyên một giáo sư đệ nhị cấp, với đôi mắt cận 7 độ, gầy như que củi, từng được hoăn dịch v́ lư do sức khỏe, lại có mặt tại một đơn vị đă từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được Tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong ṿng hai tháng ngay tại mặt trận." (Về một đại đội cũ, trang 11). Và "Từ 405, tôi cũng đă mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả". Thật là "đại đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ" (Về một đại đội cũ, trang 8).

Không chỉ riêng tác giả hănh diện về Đại Đội 405 Thám Kích, mà ngay cả người đọc cũng cảm thấy hănh diện lây. Người viết rất đồng ư với tác giả Trần Hoài Thư: "Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào. Và đó là lư do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của ḿnh" (Về một đại đội cũ, trang 13).

Cũng từ Đại Đội 405 Thám Kích, Trần Hoài Thư đă cưu mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả. Trần Hoài Thư tâm sự: "Chiếc bè đă đưa tôi vào ḍng văn chương không phải đẹp và dịu dàng như một giấc mơ. Mà trái lại, văn chương bấy giờ là văn chương của lửa, lệ, và những gào thét, tra vấn, tử sinh. Văn chương bấy giờ là những ngày đêm trong ḷng hỏa ngục, là những vết thương tóe máu đớn đau, là tiếng kêu trầm thống của một thế hệ mà, nói theo Tolstoi, chỉ những ông già bụng phệ kư giấy tuyên chiến, c̣n phần chết th́ dành cho bọn thanh niên. Nó là văn chương mà yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, chứ không phải từ cửa miệng đầu môi của những lănh tụ, đồ tể chiến tranh, hay từ những môi miệng tuyên truyền tâm lư chiến. Đó là văn chương đích thật, bởi v́ từng hơi thở, từng giọt lệ, từng cay đắng, thù hận, từng nỗi buồn rầu già trước tuổi đă cấy đă hằn theo từng chữ. Chúng tôi tự hào đă nói tất cả những ǵ chúng tôi muốn nói, muốn nghĩ, muốn tra vấn. Chúng tôi đă tạo nên những trận sấm sét phá sập nền văn chương tháp ngà. Chất liệu văn chương của chúng tôi không phải là từ đơn đặt hàng của chế độ, hay những món hàng làm dáng du nhập từ ngoại quốc mà là sự thật bằng trái phá, bằng mồ mả oan khiên, bằng những người như chúng tôi bị nướng thiêu trong ḷ lửa chiến tranh." (Về những trang sách cũ, trang 16 & 17).

Quả thật đúng vậy! Giả dụ: Nếu Trần Hoài Thư không được dịp đổi về Đại Đội 405 Thám Kích mà lại được đổi về Cục Tâm Lư Chiến nằm ngay ở Sài-G̣n, th́ có lẽ anh không có cơ hội để cưu mang tới 9 tác phẩm văn học trong ṿng 4 năm ngắn ngủi như thế. Nhưng bốn năm đối diện với tử thần để đổi lấy 9 tác phẩm văn học không phải là rẻ. Và mỗi bài văn của Trần Hoài Thư vào lúc bấy giờ là một "chúc thư". Xin hăy để Trần Hoài Thư tâm sự tiếp: "Vâng, chúng tôi tự hào đă dám nói, dám viết. V́ sao? Thứ nhất là chúng tôi là những người lính đánh giặc thật sự. Chúng tôi không nằm đằng sau, để mà phải run sợ cấp trên khi cầm ng̣i viết. Chúng tôi không phải lèo lái, gởi trao, nói bóng gió khi viết. Một bài văn gửi về Sài G̣n đều mang theo dấu hiệu của chúc thư. Và dĩ nhiên đâu phải dễ ǵ để chen chân giữa những tay cai thầu, những ông chủ bút chỉ biết nh́n tên tác giả." (Về những trang sách cũ, trang 17). Đó là sự thật. Có ông cai thầu văn nghệ ở Sài-G̣n c̣n ra điều kiện rằng: Nếu tác giả (tạm giấu tên) muốn bài thơ hay bài văn được đăng th́ phải đăi ông ta một chầu ở Đêm Màu Hồng. Chẳng những tác giả không được trả nhuận bút mà c̣n phải mất tiền để được đăng bài!

Làm văn nghệ trong chiến tranh và ở ngay ngoài mặt trận là một điều rất hiếm thấy xảy ra ở một quân đội Tây phương. Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đă có hằng trăm nhà văn nhà thơ quân đội như thế, mà nhà văn Trần Hoài Thư là một điển h́nh. Xin lắng nghe tiếp tâm sự của anh: "Chúng tôi viết cuống cuồng, viết hối hả, viết như sợ sẽ không c̣n được dịp để viết được nữa! Trời ơi! Văn chương như thế ư? Văn chương ǵ mà bi thiết như vậy! Văn chương ǵ mà không có bàn để kê giấy, không có nhạc êm dịu để mà lắng đọng tâm hồn, không có bàn máy đánh chữ, ống vố để mà làm nên cung cách! Văn chương ǵ mà một cuốn vở, chục trang giấy trắng nhét vào túi áo trận, và xung quanh là lửa, là bất trắc!" (Về những trang sách cũ, trang 17 & 18). 

Nh́n lại cái thời gian đó ắt phải rùng ḿnh. V́: "Cái thời người viết phải viết trong hầm, trong poncho trùm kín, dưới ánh đèn pin quân đội. Cái thời mỗi bản thảo gởi về xem như chúc thư. Cả thế giới này, cả quả địa cầu này, cả ngàn năm tra vấn có nơi nào như ở đây, có cây bút nào, vừa đi đánh giặc lại vừa viết văn làm thơ như chúng tôi?" (Về những trang sách cũ, trang 19). Cái thời cực kỳ gian nan ấy mà cưu mang được một tác phẩm cũng đă là qúi, huống chi tới 9 tác phẩm! Thế th́ làm sao tác giả lại không trân qúi cho được? Sau hơn hai mươi năm lưu lạc, tác giả Trần Hoài Thư mới có cơ hội gặp lại một số đứa con tinh thần của ḿnh, qua thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ cũng như qua bằng hữu. Thật là hiếm qúi! Những đứa con tinh thần lưu lạc này (hay là những "chúc thư" của một thời nào đó) đă được tác giả Trần Hoài Thư gom chung lại và in trong tập "Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ". Những "chúc thư" này tôi thấy có: Về sáng (trang 23), Bản án (trang 27), Đêm sao mùa hạ (trang 31), Bí Mật Của Một Người Mẹ (trang 49), Cánh diều trên đồng cỏ (trang 69), Con đường (trang 117), và Ngày dài nhất (trang 129). Ngoài ra, có một số truyện mới được viết sau này, như: Sài G̣n (trang 57), Đón Tết (trang 63), Ngày ở Logan, Phila (trang 75), Thư cho một người bạn thơ (trang 83), Về một ngôi trường mất tên (trang 91), Đối thoại với một nhà văn (trang 99), Tản mạn về một con quái vật (trang 109), và Đêm cuối cùng (trang 125). Trong phần Phụ Lục có hai bài phỏng vấn tác giả do nhà thơ Triều Hoa Đại (trang 139) và nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh (trang 155) thực hiện.

Đọc "Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ" của nhà văn Trần Hoài Thư để biết tâm t́nh của người lính chiến ngoài mặt trận trong một giai đoạn lịch sử nghiệt ngă hơn bất cứ một cuộc chiến tranh nào. Ngoài ra, cũng nên bắt gặp những cái nh́n mới của tác giả trong tác phẩm viết ở hải ngoại để có niềm cảm thông sâu xa hơn với tác giả. 

Đặc biệt hơn hết, người viết rất ưng ư bài "Đối thoại với một nhà văn" (trang 99). Qua bài này, nhà văn Trần Hoài Thư đă trực tiếp đối thoại với nhà văn Cộng sản Bảo Ninh qua tác phẩm "Nỗi buồn chiến tranh" của y. Sau khi đọc "Nỗi buồn chiến tranh" (NBCT) của Bảo Ninh, nhà văn Trần Hoài Thư đă phẫn nộ như sau: "Tôi đă rưng nước mắt trên những trang giấy về nỗi chán chường cùng cực của một thế hệ bị đẩy vào ḷ nướng, nhưng tôi không thể không phẫn nộ khi anh dùng nỗi buồn chiến tranh ấy để cố ư xuyên tạc bôi nhọ một hàng ngũ thất thế." (trang 102). 

Nơi trang 51 và 52 của NBCT, Bảo Ninh đă xuyên tạc vai tṛ của người lính thám báo QLVNCH, cho nên nhà văn Trần Hoài Thư đă "phản pháo" và dạy Bảo Ninh một bài học về thám báo như sau: "Nhiệm vụ của thám báo là theo dơi, phát hiện quân địch. Trinh sát, viễn thám, thám báo, biệt kích, những danh xưng, dù khác nhau, nhưng nhiệm vụ là phải tuyệt mật, lắng nghe, gắng quan sát, để mang tin về bộ chỉ huy. Họ phải chiến đấu trong đơn độc, tránh gây tiếng động, tránh chạm địch. Toán trưởng thường thường mang cấp bậc thiếu úy hay chuẩn úy. Riêng cấp bậc trung úy chỉ dành cho trung đội trưởng mà cấp số thường trên hai mươi người. Như vậy, không tên lính thám báo nào lại ngu độn đến nổi xâm nhập vào mật khu, lại bắt mang theo ba cô gái, để cho các anh theo dơi bắt lại. Riêng anh cho người chỉ huy là trung úy, th́ rơ ràng anh có một chủ ư thấy rơ. Cứ tưởng tượng đến một nhóm bảy người dưới sự chỉ huy của một tên trung úy vào mật khu để bắt ba con mồi, thúc súng đằng sau, hét ḥ, bận bịu để mang ra khỏi rừng, giữa lúc quân chính qui của các anh th́ dầy đặc, rơ ràng là một câu chuyện hoang tưởng và xuyên tạc có chủ ư." (trang 102 & 103). Và c̣n nhiều nữa, rất là lư thú...

(Đức Phố, ngày 15 tháng 6 năm 2001)